- Tranh chấp gì? án hình sự — "Bùi Thị P - phạm tội chứa mại dâm (điều 254 Bộ luật hình sự năm 1999)"
- Tòa quyết gì? 1- Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Bùi Thị P. Sửa bản án hình sự sơ thẩm số 59/2017/HSST ngày 15/9/2017 của tòa án nhân dân huyện Phúc Thọ, thành phố Hà Nội.
- Căn cứ chính? Điều 46 Bộ luật Hình sự; Điều 248 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 249 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án hình sự phúc thẩm Số: 857/2017/HSPT Ngày 27/11/2017 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Với thành phần hội đồng xét xử phúc thẩm gồm:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Bích Ngân
Các Thẩm phán:
Bà Ngô Thị Ánh
Bà Phan Thanh Huyền
Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hạnh - Cán bộ Tòa án nhân
dân thành phố Hà Nội.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa: Bà
Phạm Thị Liễu - KiÓm s¸t viªn
Ngày 27 tháng 11 năm 2017 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội xét xử phúc thẩm vụ án hình sụ thụ lý số 812/2017/HSPT ngày 25/10/2017 đối với bị cáo Bùi Thị P do có kháng cáo của bị cáo đối với bản án hình sự sơ thẩm số 59/2017/HSST ngày 15/9/2017 của Tòa án nhân dân huyện Phúc Thọ, thành phố Hà Nội.
Bị cáo kháng cáo:
BÙI THỊ P, sinh năm: 1987; nơi cư trú: Xóm Mu, xã KS, huyện Kim Bôi, tỉnh Hòa Bình; nghề nghiệp: Không; dân tộc: Mường; trình độ văn hóa: 9/12; con ông: Bùi Văn Điển và bà: Bùi Thị Phương; chồng: Nguyễn Hữu Tấn(đã ly hôn) có 02 con; tiền án, tiền sự: không, bị tạm giam từ ngày 03/6/2017; có mặt.
Người bào chữa:
Luật sư Lưu Thị Ngọc Lan, cộng tác viên Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước thành phố Hà Nội; có mặt
- 1 -
NHẬN THẤY
Bị cáo bị Viện kiểm sát nhân dân huyện Phúc Thọ truy tố và bị Tòa án nhân dân huyện Phúc Thọ xét xử về hành vi phạm tội như sau:
Khoảng 10 giờ, ngày 02/6/2017, Nguyễn Quang M, sinh năm 1990, trú tại Cụm 1, xã PT, huyện Phúc Thọ, thành phố Hà Nội cùng bạn là Nguyễn Minh C, sinh năm 1986, trú tại Cụm 2, xã PT, huyện Phúc Thọ, thành phố Hà Nội rủ nhau đi uống nước tại một quán nước ven đường Quốc lộ 32. Khi ở quán nước, Nguyễn Quang M nảy sinh ý định tìm gái bán dâm để mua dâm. Sẵn có số điện thoại của Bùi Thị P, sinh năm 1987, hộ khẩu thường trú tại xóm Mu, xã KS, huyện Kim Bôi, tỉnh Hòa Bình do một người bạn của M có biệt danh là “Tèo” cho, M điện thoại rủ Bùi Thị Phong ngày hôm sau đi chơi và bán dâm cho M từ sáng đến tối, với giá 1.500.000 đồng, thì P đồng ý. Nghe thấy M điện thoại thỏa thuận việc mua bán dâm, nên C ngồi bên cạnh liền lấy điện thoại của M nói chuyện, giới thiệu mình là bạn của M và đề nghị P rủ thêm cho một gái bán dâm khác để bán dâm cho C vào hôm sau cũng với giá 1.500.000 đồng. C nói với P nếu rủ được thì C sẽ trả cho P 500.000 đồng (Năm trăm nghìn đồng) tiền công giới thiệu gái bán dâm cho C và được P đồng ý. Đến tối cùng ngày, P nhắn tin cho Bùi Thị Ch, sinh năm 1963, trú tại, Xóm S, xã Tú Sơn, huyện Kim Bôi, tỉnh Hòa Bình là người P quen biết từ trước, rủ Ch đi bán dâm cùng mình, Ch đồng ý.
Sáng ngày 03/6/2017, P điện thoại cho Ch và hẹn đón P ở ngã ba Bãi Chạo thuộc thị trấn Bãi Chạo, huyện Kim Bôi, tỉnh Hòa Bình. Ch đồng ý và điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave S, màu đỏ, đen, bạc, biển kiểm soát 29X7- 058.19 gặp và đón P rồi cả hai cùng đi đến khu vực bến xe thị xã Sơn Tây. Tại đây, P điện thoại cho M hẹn đến đón. Khoảng 10 giờ cùng ngày thì M điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda AIRBLADE, màu đen, bạc, biển kiểm soát 30N5 - 8130 chở C đến. Sau đó, cả bốn người cùng rủ nhau đi uống nước ở một quán nước ven đường Quốc lộ 32, thuộc địa phận xã Tích Giang, huyện Phúc Thọ, thành phố Hà Nội. Tại quán nước, C đưa cho P 500.000 đồng tiền công gọi rủ gái bán dâm cho C, P cầm tiền và cất vào túi xách của mình. Uống nước xong, P, Ch, M và C cùng nhau đi đến nhà nghỉ MB, ở Cụm 12, xã Tích Giang, huyện Phúc Thọ, thành phố Hà Nội, gặp nhân viên lễ tân là anh Hà Ngọc L thuê hai phòng 401 và 402 để mua bán dâm. Trong lúc thuê phòng thì C lấy ở quầy lễ tân 02 chiếc bao cao su và đưa cho M 01 chiếc. M và P vào phòng 402, còn Cvà Ch vào phòng 401. Vào đến phòng, M trả cho P 1.500.000 đồng tiền bán dâm, P nhận tiền cất vào túi xách rồi cùng M thực hiện hành vi giao cấu, mua bán dâm. Tại phòng 401, do thấy Ch già và xấu nên C chỉ trả cho Ch 1.000.000 đồng tiền bán dâm, sau đó C và Ch cùng thực hiện hành vi giao cấu, mua bán dâm với nhau.
- 2 -
Đối với anh Hà Ngọc L, sau khi cho M, C, P và Ch thuê phòng xong, thấy có sự chênh lệch tuổi tác giữa hai người khách nam và hai người khách nữ và thấy giữa các đôi này không thể hiện tình cảm yêu đương nam nữ , anh L nghi ngờ đây là hai đôi nam nữ có biểu hiện hoạt động mua bán dâm nên đã điện báo cho Công an huyện Phúc Thọ. Nhận được điện báo của anh L, Công an huyện Phúc Thọ đã tổ chức lực lượng đến nhà nghỉ MB tiến hành kiểm tra hành chính thì phát hiện bắt quả tang C và Ch; Mvà P đang có hoạt động mua bán dâm tại hai phòng 401 và phòng 402 của nhà nghỉ. Thấy có dấu hiệu của tội phạm môi giới mại dâm, tổ công tác đã tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Bùi Thị P và đưa toàn bộ vật chứng và các đối tượng liên quan về Công an huyện Phúc Thọ để điều tra làm rõ.
Vật chứng thu giữ gồm: + Thu giữ tại phòng 401: 01 bao cao su đã qua sử dụng trên nền nhà; Thu giữ của Bùi Thị Ch số tiền 1.020.000 đồng, 01 điện thoại di động nhãn hiệu MASSTEL màu vàng đồng bên trong có 02 sim thuê bao số 01693.824.079 và 01699.723.858, 01 chứng minh thư nhân dân và 01 giấy phép lái xe cùng mang tên Bùi Thị Ch; Thu giữ của Nguyễn Minh C số tiền 790.000 đồng, 01 điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA 1280, màu đen, bên trong có số sim 01688.484.162.
+ Thu giữ tại phòng 402: 01 bao cao su đã qua sử dụng trên nền nhà; Thu giữ của Bùi Thị P số tiền 2.020.000 đồng, 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A39, màu đen bên trong có sim thuê bao số 0912.400.621, 01 điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA 1280, màu đen bên trong có sim thuê bao số 01692.997.612 và 01 chứng minh thư nhân dân mang tên Bùi Thị Ph; Thu giữ của Nguyễn Quang M: Số tiền 500.000 đồng, 01 điện thoại di động nhãn hiệu MASSTEL, màu đen bên trong có sim thuê bao số 01689.272.328.
Ngoài ra còn tạm giữ: 01 xe mô tô nhãn hiệu HONDA WAVE S, màu đỏ- đen-bạc, biển kiểm soát 29X7-058.19; số máy: JC52E- 4066451; số khung 559991; 01 xe mô tô nhãn hiệu HONDA AIRBLADE, màu đen-bạc, BKS: 30N5-8130; số máy: 0526061; số khung: 506833.
Với nội dung trên tại bản án hình sự sơ thẩm số 59/2017/HSST ngày 15/9/2017 của tòa án nhân dân huyện Phúc Thọ đã quyết định:
- Tuyên bố Bùi Thị P pham tội “Môi giới mãi dâm”
- Áp dụng: khoản 1 điều 255; điểm p khoản 1 khoản 2 điều 46; điều 33 Bộ luật hình sự.
Xử phạt: Bùi Thị P 09(chín) tháng tù. Hạn tù tính từ ngày 03/6/2017.
Ngoài ra bản án còn quyết định xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Ngày 25/9/2017 bị cáo Bùi Thị P kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
Bị cáo giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.
- 3 -
Đại diện viện kiểm sát có quan điểm:
Căn cứ lời khai của bị cáo và các tài liệu có trong hồ sơ, tòa án sơ thẩm xét xử bị cáo tội môi giới mãi dâm theo khoản 1 điều 255 Bộ luật hình sự là có căn cứ. Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội, có tình tiết mới là chính quyền địa phương nơi bị cáo cư trú xác nhận bị cáo có hoàn cảnh khó khăn và có đơn bảo lãnh cho bị cáo. Đề nghị hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo, sửa án sơ thẩm giảm hình phạt cho bị cáo còn 6 đến 7 tháng tù.
Luật sư bào chữa cho bị cáo trình bày: Không có ý kiến gì về tội danh, đề nghị hội đồng xét xử xem xét quy định của bộ luật hình sự năm 2015 đối với tội môi giới mãi dâm để áp dụng tình tiết có lợi, giảm hình phạt cho bị cáo.
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ, được thẩm tra tại phiên tòa. Sau khi tranh luận và nghị án.
XÉT THẤY
Về hình thức: Kháng cáo của bị cáo trong thời hạn quy định của pháp luật nên được chấp nhận để xem xét theo trình tự phúc thẩm.
Về nội dung:
Căn cứ lời khai của bị cáo, biên bản phạm pháp quả tang, người làm chứng và các tài liệu khác có trong hồ sơ, có đủ cơ sở kết luận ngày 02/6/2017 Bùi Thị P đã có hành vi môi giới cho Bùi Thị Ch bán dâm cho Nguyễn Minh C được hưởng lợi 500.000 đồng. Hành vi của bị cáo đã bị tòa án sơ thẩm xét xử về tội “Môi giới mãi dâm” theo khoản 1 điều 255 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.
Xét yêu cầu kháng cáo của bị cáo hội đồng xét xử thấy rằng: Tòa án sơ thẩm đã đánh giá đúng tính chất hành vi phạm tội và các tình tiết giảm nhẹ để áp dụng hình phạt 9 tháng tù đối với bị cáo là có căn cứ. Tuy nhiên tại phiên tòa phúc thẩm có đơn bảo lãnh của chính quyền địa phương nơi bị cáo cư trú, xác nhận bị cáo có hoàn cảnh khó khăn, đã ly hôn chồng và hiện hai con nhỏ không có người chăm sóc. Hành vi phạm tội của bị cáo đơn giản do bản thân bị cáo cũng đi bán dâm nên khi có người nhờ gọi bị cáo đã gọi thêm bạn cùng đi, số tiền hưởng lợi không nhiều, vì vậy hội đồng xét xử có căn cứ để xem xét chấp nhận kháng cáo, giảm một phần hình phạt cho bị cáo.
Bị cáo được chấp nhận kháng cáo nên không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Các quyết định khác của án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật.
Vì các lẽ trên
Căn cứ điểm b khoản 2 điều 248, điều 249 Bộ luật tố tụng hình sự. Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH/14 ngày 30/12/2016 về án lệ phí tòa án.
- 4 -
QUYẾT ĐỊNH
1- Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Bùi Thị P. Sửa bản án hình sự sơ thẩm số 59/2017/HSST ngày 15/9/2017 của tòa án nhân dân huyện Phúc Thọ, thành phố Hà Nội.
- Áp dụng: khoản 1 điều 255; điểm p khoản 1 khoản 2 điều 46; điều 33 Bộ luật hình sự.
Xử phạt: Bùi Thị P 06(sáu) tháng tù về tội môi giới mãi dâm. Hạn tù tính từ ngày 03/6/2017.
2- Bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
3- Các quyết định khác của án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
N¬i nhËn:
| - VKSND thµnh phè Hµ Néi. - Tßa ¸n, ViÖn kiÓm s¸t, C«ng an, Chi côc thi hµnh ¸n d©n sù huyÖn Phóc Thä, Hµ Néi. - BÞ c¸o - L u HS, VP. - 5 - | tm. Héi ®ång xÐt xö phóc thÈm ThÈm ph¸n-Chñ täa phiªn tßa NguyÔn BÝch Ng©n |