vanban.org

Bản án 855/2025/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (sửa đổi bổ sung năm 2014);

Luật án phí lệ phí 2015; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (sửa đổi bổ sung năm 2014);
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 110 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 116 Luật Hôn nhân và gia đình
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 855/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 23 - 9 - 2025
V/v ly hôn

NHAÂN DANH

NÖÔÙC COÄNG HOØA XAÕ HOÄI CHUÛ NGHÓA VIEÄT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Vôùi thaønh phaàn Hoäi ñoàng xeùt xöû sô thaåm goàm coù:

Thaåm phaùn - Chuû toïa phieân toøa: Bà Chu Thị Bình

Các Hoäi thaåm nhaân daân: 1. Ông Võ Thành Viên

2. Bà Nguyễn Thị Kim Anh

Thö kyù phieân toøa: Bà Đoàn Mỹ Linh - Thư ký Tòa án nhân dân Khu vực 7 - Thành phố Hồ Chi Minh.

Ñaïi dieän Vieän kieåm saùt nhaân daân khu vực 7 - Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Cẩm Thu - Kieåm saùt vieân.

Ngày 23 tháng 9 năm 2025 tại phòng xử án của Tòa án nhân dân Khu vực 7 - Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 371/2025/TLST-HNGD ngày 28 tháng 3 năm 2025 về việc: “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 1473 ngày 13 tháng 8 năm 2025; Quyết định hoãn phiên tòa số: 2313/2025/QĐST-DS ngày 05 tháng 9 năm 2025, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Nguyễn T, sinh năm 1976; Địa chỉ: Số A Đường số B, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh.

(Có đơn xin vắng mặt)

Bị đơn: Ông Nguyễn Văn H, sinh năm 1973; Địa chỉ: Số A Đường số B, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh

(Vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 08/01/2025, bản tự khai và lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, bà Nguyễn T trình bày:

Bà Nguyễn T và ông Nguyễn Văn H tự nguyện kết hôn năm 2002 có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Nghĩa Hồng, huyện Nghĩa Hưng (nay là xã Hồng Phong) tỉnh Nam Định. Theo giấy chứng nhận kết hôn số 67, quyển số 1, cấp ngày 26/11/2002. Sau khi kết hôn vợ chồng bất đồng quan điểm sống, không có tiếng nói chung, thường xuyên cãi vã, bị bạo lực nhiều lần, cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc, Bà T và ông H đã ly thân được 2 năm. Tình cảm vợ chồng không thể hàn gắn được. Vì vậy, bà T làm đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án nhân dân Khu vực 7 – Thành phố Hồ Chí Minh giải quyết cho bà ly hôn với ông H.

Về con chung: Có 02 con chung tên là Nguyễn Thanh H, sinh ngày 24/07/2003 (đã trưởng thành) và Nguyễn Kim T, sinh ngày 28/02/2014. Bà T yêu cầu trực tiếp nuôi dưỡng. Không yêu cầu ông H cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: Bà Nguyễn T không yêu cầu Tòa án giải quyết trong vụ kiện này.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 7 – Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu quan điểm về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán và Hội đồng xét xử như sau:

* Về tố tụng:

- Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán: Qua kiểm sát việc giải quyết vụ án từ khi thụ lý đến thời điểm xét xử thấy rằng Thẩm phán đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 trong quá trình giải quyết vụ án về thẩm quyền thụ lý vụ án, xác định đúng quan hệ tranh chấp, xác định tư cách pháp lý, và mối quan hệ của những người tham gia tố tụng, cũng như thời hạn gửi các văn bản tố tụng, hồ sơ cho Viện kiểm sát nghiên cứu.

- Về việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử: Tại phiên tòa hôm nay Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về phiên tòa sơ thẩm.

- Về chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng từ khi thụ lý vụ án cũng như tại phiên tòa hôm nay:

Nguyên đơn đã thực hiện đúng các quy định tại các Điều 70, Điều 71 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015,

Bị đơn chưa thực hiện quyền, nghĩa vụ theo quy định tại Điều 70, Điều 72 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

* Về nội dung: Đề nghị chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn

- Bà Nguyễn T yêu cầu được ly hôn với ông Nguyễn Văn H là có cơ sở.

- Về con chung: Có 02 con chung tên là Nguyễn Thanh H, sinh ngày 24/07/2003 (đã trưởng thành) và Nguyễn Kim T, sinh ngày 28/02/2014. Bà T yêu cầu nuôi dưỡng. Không yêu cầu ông H cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung: Đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên không xét.

- Về án phí: Đương sự phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng: Yêu cầu xin ly hôn của Bà Nguyễn T đối với ông Nguyễn Văn H là quan hệ tranh chấp về hôn nhân gia đình. Căn cứ phiếu yêu cầu xác minh của Tòa án nhân dân Khu vực 7 – Thành phố Hồ Chí Minh ngày 01 tháng 7 năm 2025, kết quả xác minh của Công an quận G , Thành phố Hồ Chí Minh cho biết ông Nguyễn Văn H có thường trú tại Số A Đường số B, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh. Tuy nhiên quá trình giải quyết vụ án, Tòa án làm thủ tục tống đạt tại địa chỉ trên ông H vẫn là người nhận trực tiếp các văn bản của Tòa án. Do đó vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Khu vực 7 – Thành phố Hồ Chí Minh theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Về nội dung: Căn cứ vào giấy chứng nhận kết hôn số 67, quyển số 01, cấp ngày 26/11/2002 do tại Ủy ban nhân dân xã Nghĩa Hồng, huyện Nghĩa Hưng (nay là xã Hồng Phong), tỉnh Nam Định cấp thể hiện hôn nhân giữa bà Nguyễn T và ông Nguyễn Văn H là quan hệ hôn nhân hợp pháp, nên phát sinh quyền và nghĩa vụ giữa vợ chồng theo quy định của Luật Hôn nhân và Gia đình.

Về yêu cầu xin ly hôn của bà T, xét thấy trong thời gian chung sống, vợ chồng không hòa hợp, luôn phát sinh mâu thuẫn, thường xuyên cãi vã. Vợ chồng đã tự hòa giải và đóng góp ý kiến để hàn gắn hạnh phúc gia đình nhưng không giải quyết được mâu thuẫn nên không thể sống chung được nữa. Nay bà T yêu cầu ly hôn với ông H. Hội đồng xét xử nhận thấy yêu cầu của bà T là phù hợp với quy định tại Điều 51, Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014. Vì thực tế tình cảm vợ chồng đã rạn nứt mà không thể hàn gắn được. Bà T khai hai vợ chồng không còn hạnh phúc, do bị bạo lực nhiều lần, không có được tiếng nói chung nên bà T và ông H đã ly thân từ năm 2023 đến nay. Bà T xác định tình cảm vợ chồng không còn. Mục đích hôn nhân không đạt được thì không nhất thiết phải kéo dài cuộc sống vợ chồng nữa; Tòa án cũng đã triệu tập ông Nguyễn Văn H đến Tòa để ghi lời khai, tham dự phiên họp công khai chứng cứ và hoà giải, tham dự phiên Tòa, nhưng ông H không đến. Điều này thể hiện ý chí của ông H bỏ mặc việc ly hôn của bà T tại Tòa án. Nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Nguyễn T với ông Nguyễn Văn H.

Về con chung: Bà Thu khai Có 02 con chung tên là Nguyễn Thanh H, sinh ngày 24/07/2003 (đã trưởng thành) và Nguyễn Kim T, sinh ngày 28/02/2014. Bà T là người trực tiếp nuôi dưỡng con chung, không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con. Yêu cầu của bà T về nuôi con chung và cấp dưỡng nuôi con là có cơ sở chấp nhận theo quy định tại Điều Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

Về tài sản chung: Đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết trong vụ kiện này, nên Tòa án không xem xét.

Về án phí: Bà T phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm 300.000 đồng theo quy định của pháp luật.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 7 – Thành phố Hồ Chí Minh là có cơ sở.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng:

- Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 227, Điều 228, Điều 232, Điều 271, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

- Điều 51, Điều 56, Điều 57, Điều 59, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84, Điều 110, Điều 116, Điều 117 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

- Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (sửa đổi bổ sung năm 2014);

- Luật án phí lệ phí 2015;

- Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016.

Tuyên xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn T xin ly hôn với bị đơn là ông Nguyễn Văn H.

1. Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn T được ly hôn với Nguyễn Văn H (Giấy chứng nhận kết hôn số 67, quyển số 01, cấp ngày 26/11/2002 do Ủy ban nhân dân xã Nghĩa Hồng, huyện Nghĩa Hưng (nay là xã Hồng Phong), tỉnh Nam Định cấp không còn giá trị).

2. Về con chung: Có 02 con chung tên là Nguyễn Thanh H, sinh ngày 24/07/2003 (đã trưởng thành) và Nguyễn Kim T, sinh ngày 28/02/2014 giao cho bà T là người trực tiếp nuôi dưỡng con chung, tạm hoãn cấp dưỡng nuôi con cho ông H.

Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm con để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

Cha, mẹ trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

Trong trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức theo quy định tại khoản 5 Điều 84 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014 Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con.

Vì lợi ích của con khi có lý do chính đáng, một hoặc cả hai bên có quyền yêu cầu Tòa án thay đổi mức cấp dưỡng nuôi con.

3. Về tài sản chung: Đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên không xem xét.

4. Về án phí hôn nhân sơ thẩm: Bà Nguyễn T phải chịu 300.000 đồng án phí nhưng được cấn trừ vào số tiền tạm ứng án phí bà T đã đóng tạm nộp theo biên lai thu số 0057564 ngày 11/3/2025 của Chi cục thi hành án dân sự quận Gò Vấp (nay là Phòng thi hành án dân sự Khu vực 7) Thành phố Hồ Chí Minh.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6; 7; 7a; 7b và 9 Luật thi hành án dân sự (sửa đổi bổ sung 2014); thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự (sửa đổi bổ sung 2014).

Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hoặc niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.

Cỡ chữ