- Tranh chấp gì? án hình sự — "NGUYỄN PHÁT T - gây rối trật tự công cộng (điều 318 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Phát T và sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 245/2026/HS-ST ngày 08/7/2026 của Tòa án nhân dân Khu vực 5, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 854/2026/HS-PT Ngày: 21-9-2026 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đặng Hồng Sơn
Các Thẩm phán:
1/ Ông Huỳnh Văn Trực
2/ Ông Sỹ Hồng Nam
- Thư ký phiên tòa: Ông Bùi Huy Phúc - Thư ký Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Thu Hằng - Kiểm sát viên.
Trong ngày 21 tháng 9 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, xét xử công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 709/2026/HSPT ngày 13/8/2026 đối với bị cáo Nguyễn Phát T, do có kháng cáo của bị cáo Nguyễn Phát T đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 245/2026/HS-ST ngày 08/7/2026 của Tòa án nhân dân Khu vực 5, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Bị cáo có kháng cáo: Nguyễn Phát T; giới tính: Nam; sinh năm 1993, tại tỉnh Tây Ninh (căn cước công dân: 082093000697; Nơi cấp: Cục C1 về TTXH); nơi thường trú: Khu phố A, xã V, tỉnh Tây Ninh; chỗ ở hiện nay: nhà không số (đối diện E) ấp E, xã T, Thành phố Hồ Chí Minh; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; trình độ văn hóa: 10/12; nghề nghiệp: Tài xế; con ông Nguyễn Văn H, sinh năm 1963 và bà Nguyễn Thị Thu T1, sinh năm 1963; bị cáo có vợ tên Đặng Thị Yến N, sinh năm 1992 và có 01 người con nhỏ, sinh năm 2025; tiền án, tiền sự: Không;
Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” từ ngày 10/11/2025 đến nay. (Có mặt tại phiên tòa)
- Bị cáo không kháng cáo và không bị kháng nghị: Nguyễn Phụng T2; giới tính: Nam; sinh năm 1988, tại Thành phố Hồ Chí Minh; nơi thường trú: 11C ấp E, xã Đ, Thành phố Hồ Chí Minh; chỗ ở hiện nay: Nhà không số, ấp C, xã Đ, Thành phố Hồ Chí Minh; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; trình độ văn hóa: 12/12; nghề nghiệp: Tài xế; con ông Nguyễn Văn C và bà Trần Thị Ngọc H1; bị cáo có vợ tên Trần Thị Thu O và có 02 người con, sinh năm 2020 và sinh năm 2023; tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo đang bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 10/11/2025 đến nay. (Vắng mặt tại phiên tòa)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Nguyễn Phụng T2 (sinh năm 1988) và Nguyễn Phát T (sinh năm 1993) đều là tài xế xe công nghệ Be, thường xuyên đón khách, nghỉ ngơi tại trước cổng trường Đại học N1, địa chỉ 15 đường D, phường T, Thành phố Hồ Chí Minh. Vào khoảng 17 giờ 35 phút ngày 12/8/2025, Nguyễn Phụng T2 đi đến trước cổng trường Đại học N1 thì gặp Nguyễn Phát T đang chờ khách đặt xe. Lúc này, T nói với T2 “chạy đâu mà chạy như chó”, do chạy xe mệt nên T2 bực mình và nói lại với T “mày chửi ai vậy thằng chó”. Từ đó, T2 và T bắt đầu lời qua tiếng lại với nhau, T xông vào dùng tay trái đánh 02 cái trúng mặt T2 và quật ngã T2 xuống đất. T tiếp tục đấm 05 cái (01 cái bằng tay trái, 04 cái bằng tay phải) vào mặt của T2 thì được người dân vào can ngăn. Sau đó, T đứng dậy tháo mũ bảo hiểm đang đội trên đầu cầm trên tay phải đánh 01 cái về phía T2 nhưng không trúng. Lúc này, T2 cũng đã đứng lên, cởi mũ bảo hiểm đang đội cầm bằng tay phải lao vào đánh nhau với T khoảng 10 giây rồi T2 và T tự động tách ra và bỏ đi.
Vụ việc được người dân quay clip và đưa lên mạng xã hội Tiktok, gây bức xúc, hoang mang trong dư luận. Đến ngày 13/8/2025, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Thành phố H mời T2 và T về trụ sở Công an làm rõ sự việc. Tại Cơ quan điều tra, T2 và T đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như trên.
Ngày 05/9/2025, Ủy ban nhân dân phường T, Thành phố Hồ Chí Minh có công văn số 571/UBND đánh giá vụ việc nêu trên có ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự - an toàn xã hội tại địa phương và cần xử lý để phòng ngừa xã hội theo quy định.
Trong quá trình đánh nhau Nguyễn Phụng T2 bị bầm nhẹ ở vùng mắt, hiện đã lành không để lại thương tích, không yêu cầu xử lý hình sự đối với Nguyễn Phát T và không yêu cầu bồi thường gì.
Trong quá trình đánh nhau Nguyễn Phát T bị trầy nhẹ ngoài da, hiện đã lành không để lại thương tích, không yêu cầu xử lý hình sự đối với Nguyễn Phụng T2 và không yêu cầu bồi thường gì.
Quá trình điều tra, Nguyễn Phụng T2 và Nguyễn Phát T thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nêu trên.
*Vật chứng vụ án:
- 01 (một) nón bảo hiểm màu trắng viền vàng ở 02 bên trên có ghi chữ PC88 NỀN TẢNG TRÒ CHƠI ĐIỆN TỬ PHỔ BIẾN NHẤT; 01 (một) áo khoác màu vàng bên trên ghi chữ “be”; 01 (một) quần jean màu xanh; 01 (một) áo thun màu xanh; 01 (một) đôi giày màu đen của Nguyễn Phụng T2.
- 01 (một) nón bảo hiểm màu vàng bên trên ghi chữ “be”; 01 (một) áo khoác màu vàng bên trên ghi chữ “be”; 01 (một) áo thun cổ tròn màu xám; 01 (một) quần dài màu xám; 01 (một) đôi dép màu đen của Nguyễn Phát T.
*Tại bản cáo trạng số 50/CT-VKSKV5 ngày 03 tháng 06 năm 2026 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5, Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố: Các bị cáo Nguyễn Phụng T2 và Nguyễn Phát T phạm tội “Gây rối trật tự công cộng” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 318 của Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 và năm 2025.
*Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 245/2026/HS-ST ngày 08/7/2026 của Tòa án nhân dân Khu vực 5, Thành phố Hồ Chí Minh đã quyết định:
-Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017, 2025;
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Phát T phạm tội “Gây rối trật tự công cộng”
Xử phạt bị cáo Nguyễn Phát T 03 (ba) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt giam bị cáo để thi hành án.
-Ngoài ra, Bản án hình sự sơ thẩm còn xử phạt bị cáo Nguyễn Phụng T2 02 năm 06 tháng tù, về tội “Gây rối trật tự công cộng” nhưng cho hưởng án treo; đồng thời tuyên về xử lý vật chứng, nghĩa vụ nộp án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Ngày 09/7/2026, bị cáo Nguyễn Phát T có đơn kháng cáo, xin được giảm nhẹ hình phạt và cho bị cáo được hưởng án treo.
*Tại phiên tòa phúc thẩm hôm nay:
- Bị cáo Nguyễn Phát T đã thừa nhận toàn bộ hành vi mà các bị cáo thực hiện như Bản án sơ thẩm đã xác định, bị cáo giữ nguyên yêu cầu kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và cho bị cáo được hưởng án treo, với các lý do: Bị cáo phạm tội lần đầu, chưa có tiền án, tiền sự, có nhân thân tốt, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải và ngay sau ngày phạm tội bị cáo đã đến cơ quan công an trình diện, tích cực hợp tác với cơ quan Công an trong quá trình điều tra (vấn đề này đã được ghi nhận tại kết luận điều tra), bị cáo có hoàn cảnh gia đình khó khăn, hiện là lao động chính trong gia đình với công việc lao động phổ thông (chạy xe G) để nuôi dưỡng mẹ già, nuôi vợ mới sinh con nhỏ (có xác nhận của chính quyền địa phương). Ngoài ra bị cáo còn chủ động gặp anh T2 xin lỗi và tự nguyện bồi thường toàn bộ thuốc men, thu nhập thực tế anh T2 bị mất trong thời gian không thể đi làm được.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa đưa ra ý kiến phát biểu: Sau khi tóm tắt nội dung bản án sơ thẩm và đơn kháng cáo của bị cáo, đại diện Viện kiểm sát nhận thấy tại phiên tòa bị cáo có cung cấp tài liệu chứng cứ mới thuộc các tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, tuy nhiên mức án cấp sơ thẩm đã tuyên đối với bị cáo Nguyễn Phát T là 03 năm tù, là phù hợp, tương xứng với tính chất, mức độ của hành vi phạm tội mà bị cáo thực hiện kể cả bị cáo có tình tiết giảm nhẹ mới nêu trên. Từ đó, đại diện Viện kiểm sát đề nghị không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Phát T và giữ nguyên bản án sơ thẩm. Về nội dung khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị có hiệu lực pháp luật nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét.
Bị cáo Nguyễn Phát T không bào chữa, đồng thời cùng đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt và cho bị cáo được hưởng án treo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và ý kiến của kiểm sát viên, bị cáo, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Ngày 08/7/2026, Tòa án nhân dân Khu vực 5, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm. Ngày 09/7/2026, bị cáo Nguyễn Phát T có đơn kháng cáo, xin được giảm nhẹ hình phạt và cho bị cáo được hưởng án treo. Đơn kháng cáo của bị cáo được lập trong thời hạn luật định nên hợp lệ.
Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Phát T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, từ đó có đủ cơ sở để kết luận:
Vào ngày 12/8/2025, Nguyễn Phụng T2 và Nguyễn Phát T đã có hành vi dùng mũ bảo hiểm là hung khí đánh nhau tại trước cổng trường Đại học N1 địa chỉ 15 đường D, phường T, Thành phố Hồ Chí Minh, gây bức xúc, hoang mang trong dư luận, ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự, an toàn xã hội tại địa phương. Đồng thời, Ủy ban nhân dân phường T, Thành phố Hồ Chí Minh có Công văn số 571/UBND ngày 05/9/2025, đánh giá đây là vụ việc gây ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự - an toàn xã hội tại địa phương và cần xử lý theo quy định.
Do đó, Tòa án nhân dân khu vực 5, Thành phố Hồ Chí Minh đã xét xử các bị cáo Nguyễn Phát T và Nguyễn Phụng T2 về tội “Gây rối trật tự công cộng” theo điểm b khoản 2 Điều 318 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017, năm 2025 là có căn cứ, đúng người, đúng tội, không oan sai.
Xét kháng cáo của bị cáo: Trong đơn kháng cáo và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Nguyễn Phát T giữ nguyên yêu cầu kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và cho bị cáo được hưởng án treo.
Về hình phạt đã áp dụng đối với bị cáo, khi lượng hình thì Tòa án nhân dân Khu vực 5 đã xem xét đến các tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo đó là: Bị cáo có thái độ khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải nên áp dụng tình tiết giảm nhẹ theo điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017, năm 2025 để quyết định về hình phạt.
Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo T cung cấp thêm tình tiết chứng cứ mới như bị cáo phạm tội lần đầu, chưa có tiền án, tiền sự, có nhân thân tốt, có hoàn cảnh gia đình khó khăn, hiện là lao động chính trong gia đình với công việc lao động phổ thông (chạy xe G) để nuôi dưỡng mẹ già, nuôi vợ mới sinh con nhỏ (có xác nhận của chính quyền địa phương). Ngoài ra bị cáo còn chủ động gặp anh T2 xin lỗi và tự nguyện bồi thường toàn bộ thuốc men, thu nhập thực tế anh T2 bị mất trong thời gian không thể đi làm được, cũng như tại kết luận điều tra vụ án đã ghi nhận bị cáo đã đến cơ quan công an trình diện, tích cực hợp tác với cơ quan Công an trong quá trình điều tra, Hội đồng xét xử thấy đây là các tình tiết giảm nhẹ mới quy định tại điểm t khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, năm 2025. Trên cơ sở các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mới, cũng như cân nhắc đến nhân thân, mức án mà cấp sơ thẩm đã xét xử, hoàn cảnh của bị cáo phạm tội do bộc phát, chưa gây cản trở giao thông và theo quy định Điều 2 Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018; khoản 1 Điều 1 Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 (nay là Điều 2 Nghị quyết hướng dẫn áp dụng Điều 65 Bộ luật hình sự của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, có hiệu lực từ ngày 10/7/2025), thì có cơ sở xem xét để chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Phát T khi bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s, t khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự và không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự; ngoài ra tính đến thời điểm này thì bị cáo có nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng và có tình tiết giảm nhẹ mới. Từ đó, Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Phát T và sửa bản án sơ thẩm theo hướng giữ nguyên mức hình phạt và cho bị cáo Nguyễn Phát T được hưởng án treo, đồng thời ấn định thời gian thử thách, là cũng đủ tác dụng giáo dục và răn đe đối với bị cáo.
Lập luận trên đây cũng là căn cứ để không chấp nhận quan điểm luận tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tại phiên tòa về việc không chấp nhận kháng cáo của bị cáo và giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Về án phí: Bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị có hiệu lực pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 355; Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025:
1. Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Phát T và sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 245/2026/HS-ST ngày 08/7/2026 của Tòa án nhân dân Khu vực 5, Thành phố Hồ Chí Minh.
2. Về hình phạt: Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s, t khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017, năm 2025.
Xử phạt Nguyễn Phát T 03 (Ba) năm tù, về tội “Gây rối trật tự công cộng”, nhưng cho bị cáo được hưởng án treo. Thời gian thử thách là 05 (Năm) năm, kể từ ngày tuyên án phúc thẩm (Ngày 21/9/2026).
Giao bị cáo Nguyễn Phát T cho Ủy ban nhân dân xã T, Thành phố Hồ Chí Minh là nơi cư trú của bị cáo giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách.
Trong thời gian thử thách, nếu Nguyễn Phát T cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Trong trường hợp bị cáo Nguyễn Phát T thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại các Điều 82, 87 và 89 của Luật thi hành án hình sự.
3. Căn cứ Điều 135, 136 của Bộ luật tố tụng hình sự và căn cứ Điều 22 và 23 Nghị quyết quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí toà án số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016, cùng danh mục án phí, lệ phí toà án, của Ủy ban thường vụ Q,
Bị cáo Nguyễn Phát T không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
4. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - TAND TC; (1) - VKSND TP.HCM; (3) - CQ THAHS CA.TP.HCM (1) - CQCSĐT – CA.TP.HCM; (1) - VKSND Khu vực 5; (1) - TAND Khu vực 5; (1) - THADS TP.HCM (1) - Phòng THADS Khu vực 5; (1) - Bị cáo; (1) - UBND nơi bị cáo cư trú; (1) - Lưu: VT, THS, hồ sơ (20) (8) | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đặng Hồng Sơn |