- Tranh chấp gì? án hành chính — "Lê Hữu M khởi kiện UBND huyện T"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận một phần kháng cáo của ông Lê Hữu M. Sửa Bản án hành chính sơ thẩm số 71/2018/HC-ST ngày 03/4/2018 của Tòa án nhân dân tỉnh Long An.
- Căn cứ chính? Điều 193 Luật Tố tụng hành chính; Điều 20 Nghị định số 47/2014/NĐ-CP Quy định về bồi thường, hỗ trợ, t…; Điều 241 Luật Tố tụng hành chính
| TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 851A/2019/HC-PT Ngày 21 - 11 - 2019 V/v Khiếu kiện yêu cầu hủy quyết định bồi thường, hỗ trợ tái định cư. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa:
Bà Huỳnh Thanh Duyên
Các Thẩm phán:
Ông Phan Đức Phương
Bà Trần Thị Huyền Vân
- Thư ký phiên tòa: Bà Mai Thị Thu Trang - Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Gia Viễn - Kiểm sát viên.
Ngày 21 tháng 11 năm 2019, tại trụ sở Toà án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm công khai vụ án hành chính thụ lý số: 239/2018/TLPT-HC ngày 29 tháng 5 năm 2018 về việc: “Khiếu kiện yêu cầu hủy quyết định bồi thường, hỗ trợ tái định cư”.
Do Bản án hành chính sơ thẩm số 92/2018/HC-ST ngày 11 tháng 4 năm 2018 của Toà án nhân dân tỉnh Long An bị kháng cáo;
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 1072/2018/QĐPT-HC ngày 30 tháng 7 năm 2018, giữa các đương sự:
- Người khởi kiện: Ông Lê Hữu M, sinh năm 1950; (có mặt)
Địa chỉ: ấp 5, xã A, huyện T, tỉnh Long An.
Đại diện ủy quyền của người khởi kiện: Bà Nguyễn Thị Mỹ H, sinh năm 1995; địa chỉ: 781/A24 L, phường 12, Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh. (có mặt)
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của ông Bình: Luật sư Trương Thị Minh T (vắng mặt) và luật sư Nguyễn Thị Thanh Th – Đoàn Luật sư Thành phố Hồ Chí Minh. (có mặt)
- Người bị kiện: Ủy ban nhân dân huyện Tân Tr, tỉnh Long An.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Trịnh Phước Tr - Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện Tân Tr, tỉnh Long An. (vắng mặt)
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Công ty Trách nhiệm hữu hạn A. (vắng mặt)
Địa chỉ trụ sở chính: số 25/1 Q, xã L, huyện Bến Lức, tỉnh Long An.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Trầm Cẩm L - Giám đốc.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Trần Văn M, sinh năm: 1963;
Địa chỉ: 175 Lý, phường 8, quận T, thành phố Hồ Chí Minh.
- Người kháng cáo: Ông Lê Hữu M.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Người khởi kiện – ông Lê Hữu M trình bày:
Vào ngày 09/6/2017, Ủy ban nhân dân huyện Tân Tr (UBND huyện Tân Tr) ban hành Quyết định 4848/QĐ-UBND với nội dung bồi thường, hỗ trợ, tái định cư do thu hồi đất của ông Lê Hữu M để thực hiện dự án hạ tầng khu công nghiệp An Nhựt Tân. Tổng cộng số tiền bồi thường là 1.001.948.283đ, ông M đã nhận tiền bồi thường xong. Ông M không đồng ý giá trị bồi thường vì giá trị đất chưa đúng với thực tế, chưa xem xét vị trí đất và các khoản hỗ trợ khác chưa đúng quy định của pháp luật hiện hành. Do đó, ông Lê Hữu M khởi kiện yêu cầu hủy toàn bộ Quyết định 4848/QĐ-UBND ngày 09/6/2017 của UBND huyện Tân Tr để ban hành quyết định bồi thường theo đúng quy định pháp luật.
Người bị kiện - Ủy ban nhân dân huyện Tân Tr có văn bản trình bày ý kiến như sau:
Thực hiện chủ trương thu hồi đất đề đầu tư hạ tầng khu công nghiệp An Nhựt Tân, UBND huyện Tân Tr đã thực hiện các thủ tục theo quy định và thực hiện kê biên, áp giá, ban hành các quyết định bồi thường cho các hộ dân có đất và tài sản trên đất trong khu công nghiệp An Nhựt Tân. Trong quá trình ban hành các quyết định thu hồi đất và quyết định bồi thường, các hộ dân trong đó có hộ ông M đã chấp hành và không khiếu kiện. Tòa án nhân dân các cấp tỉnh Long An giải quyết và đã tuyên hủy các quyết định bồi thường đối với 82 hộ dân. Để đảm bảo công bằng cho những hộ khởi kiện và những hộ không khởi kiện nên ngày 12/01/2017 UBND tỉnh Long An ban hành Quyết định 148/QĐ-UBND về việc phê duyệt lại hệ số điều chỉnh đơn giá đất bồi thường, hỗ trợ và tái định cư để giải phóng mặt bằng xây dựng khu công nghiệp An Nhựt Tân trên địa bàn xã A, huyện T. Ngày 09/6/2017, UBND huyện Tân Tr ban hành phương án bồi thường hỗ trợ, tái định cư số 16/PA-HĐBTGPMB. Ngày 09/6/2017, UBND tỉnh Long An ban hành Quyết định 4587/QĐ-UBND ngày 09/6/2017 về việc phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ và tái định cư dự án hạ tấng khu công nghiệp An Nhựt Tân. Theo đó, UBND huyện Tân Tr ban hành Quyết định 4848/QĐ-UBND với nội dung bồi thường, hỗ trợ, tái định cư do thu hồi đất của ông M để thực hiện dự án hạ tầng khu công nghiệp An Nhựt Tân. Tổng cộng số tiền bồi thường là 1.001.948.283đ (mức bồi thường nhận năm 2007 là 361.729.947đ, nhận năm 2010 là 159.983.184đ), ông M đã nhận đủ số tiền bồi thường. UBND huyện Tân Tr xác định đã thực hiện bồi thường đúng theo quy định pháp luật nên không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của ông Lê Hữu M.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan - Công ty TNHH A do ông Trần Văn Mến đại diện theo ủy quyền có văn bản trình bày:
Căn cứ Điều 30, Điều 32 và Điều 193 Luật tố tụng hành chính; Điều 74, Điều 75, Điều 83 Luật đất đai; Điều 32 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội;
Tuyên xử:
Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Lê Hữu M về việc yêu cầu hủy quyết định hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai của UBND huyện Tân Tr như quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Long An.
Quyết định 4848/QĐ-UBND ngày 09/6/2017 của UBND huyện Tân Tr ban hành là đúng quy định pháp luật.
Ngoài ra án sơ thẩm còn tuyên về án phí, quyền kháng cáo của các đương sự theo luật định.
Ngày 23/4/2018, người khởi kiện ông Lê Hữu M có đơn kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm.
Tại phiên tòa phúc thẩm, người đại diện theo quyền của ông Lê Hữu M vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo đề nghị Hội đồng xét xử sửa bản án sơ thẩm theo hướng chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Lê Hữu M, hủy Quyết định số 4848/QĐ-UBND ngày 09/6/2017 của Ủy ban nhân dân huyện Tân Tr về việc bồi thường, hỗ trợ tái định cư. Ngoài ra, ông M cho rằng đến hiện giờ vẫn chưa nhận được quyết định thu hồi đất.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người khởi kiện phân tích và so sánh nếu bình thường theo các chính sách quy định tại thời điểm 2008 thì ông M sẽ được lợi hơn so với thời điểm năm 2017. Đối với chính sách tái định cư thì tòa án đã để thời gian hai bên thương lượng nhưng UBND không tổ chức đối thoại với dân mà chỉ mời lên để thông báo. Ngoài ra, luật sư còn phân tích các bất thường của chứng thư thẩm định giá và UBND tỉnh lại áp dụng chứng thư thẩm định hết thời hiệu.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án: Về tố tụng: Hội đồng xét xử và các đương sự đã tuân thủ đúng quy định của Luật tố tụng hành chính. Về nội dung: Qua phân tích của luật sư, Viện kiểm sát thấy việc bồi thường hỗ trợ đúng quy định của pháp luật. Tuy nhiên, tại Quyết định số 4848/QĐ-UBND ngày 09/6/2017 về việc cấp tái định cư cho ông M được một trong 3 khu đất theo quyết định. Tuy nhiên, ông M được nhận là đất D7 hoàn toàn không đúng theo quyết định 4848. Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận một phần kháng cáo của người khởi kiện, hủy một phần quyết định 4848 về tái định cư để UBND tỉnh giải quyết lại.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên toà; trên cơ sở xem xét toàn diện ý kiến của người khởi kiện, quan điểm của Viện kiểm sát; căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà;
Về hình thức: Đơn kháng cáo của ông Lê Hữu M làm trong hạn luật định, được Hội đồng xét xử xem xét theo thủ tục phúc thẩm.
Về nội dung kháng cáo đề nghị hủy Quyết định số Quyết định số 4848/QĐ-UBND ngày 09/6/2017 của UBND huyện Tân Tr, Hội đồng xét xử xét thấy:
Về trình tự, thủ tục ban hành Quyết định số 4848/QĐ-UBND:
Thực hiện dự án khu Công nghiệp An Nhựt Tân, UBND huyện Tân Tr đã ban hành các quyết định thu hồi đất và quyết định bồi thường cho các hộ dân trong đó có hộ ông M từ năm 2007-2008. Trong quá trình ban hành các quyết định thu hồi đất và quyết định bồi thường, các hộ dân trong đó có hộ ông M đã chấp hành và không khiếu kiện. Nhưng do Tòa án nhân dân các cấp tỉnh Long An giải quyết và đã tuyên hủy các quyết định bồi thường đối với 82 hộ dân nên ngày 12/01/2017 UBND tỉnh Long An ban hành Quyết định 148/QĐ-UBND về việc phê duyệt lại hệ số điều chỉnh đơn giá đất bồi thường, hỗ trợ và tái định cư để giải phóng mặt bằng xây dựng khu công nghiệp An Nhựt Tân trên địa bàn xã A, huyện T. Để bảo đảm công bằng cho các hộ dân khởi kiện và không khởi kiện, ngày 09/6/2017, UBND tỉnh Long An (UBND tỉnh Long An) ban hành Quyết định 4587/QĐ-UBND ngày 09/6/2017 về việc phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ và tái định cư dự án hạ tầng khu công nghiệp An Nhựt Tân theo phương án bồi thường hỗ trợ, tái định cư số 16/PA-HĐBTGPMB. Theo đó, UBND huyện Tân Tr ban hành Quyết định 4848/QĐ-UBND ngày 09/6/2017 với nội dung bồi thường, hỗ trợ, tái định cư do thu hồi đất của ông M để thực hiện dự án hạ tầng khu công nghiệp An Nhựt Tân. Do đó, về thẩm quyền và trình tự ban hành Quyết định 4848/QĐ-UBND ngày 09/6/2017 của UBND huyện Tân Tr là hoàn toàn đúng trình tự và thẩm quyền theo quy định của khoản 2 Điều 66 và Điều 69 Luật đất đai năm 2013.
Về nội dung của Quyết định số 4848/QĐ-UBND:
Đối với giá trị quyền sử dụng đất bị thu hồi, để có cơ sở giải quyết bồi thường, UBND huyện Tân Tr có đề xuất trưng cầu Công ty Cổ phần Thông tin và Thẩm định giá Miền Nam để xác định giá trị đất theo thời điểm bồi thường và được UBND tỉnh Long An họp dân, niêm yết và phê duyệt theo Quyết định số 148/QĐ-UBND ngày 12/01/2017 là hoàn toàn phù hợp quy định tại khoản 2 Điều 74 Luật Đất đai năm 2013. Hơn nữa, mức giá của UBND huyện Tân Tr áp dụng cũng cao hơn mức giá đất được UBND tỉnh Long An quy định hằng năm tại thời điểm bồi thường năm 2017.
Về giá trị tài sản trên đất, các tài sản được bồi thường được tính theo biên bản kiểm kê năm 2007 và áp dụng bảng giá theo quy định tại Quyết định số 57/QĐ-UBND ngày 18/10/2016 quy định đơn giá bồi thường thiệt hại đối với cây trồng, vật nuôi là thủy sản khi nhà nước thu hồi đất trên địa bàn tỉnh Long An và Quyết định số 58/QĐ-UBND ngày 19/10/2016 của UBND tỉnh Long An quy định đơn giá xây dựng mới loại nhà ở, công trình xây dựng, vật kiến trúc và đơn giá mồ mả trên địa bàn tỉnh Long An là phù hợp pháp luật và hoàn toàn có lợi cho gia đình các hộ dân, trong đó có hộ ông M.
Về các khoản hỗ trợ khác, UBND huyện Tân Tr áp dụng mức hỗ trợ di dời và mức hỗ trợ chuyển đổi nghề nghiệp trên cơ sở Quyết định số 148/QĐ-UBND ngày 12/01/2017 và Quyết định số 56/QĐ-UBND quy định bồi thường trên toàn địa bàn tỉnh Long An hoàn toàn phù hợp quy định Điều 20 Nghị định số 47/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ. Các khoản hỗ trợ trên không do UBND huyện Tân Tr tự quyết định mà phải căn cứ trên sự phê duyệt của UBND tỉnh Long An và mức 0,4 do UBND tỉnh Long An quy định trên toàn địa bàn tỉnh Long An là phù hợp với quy định pháp luật.
Xét đây là dự án đã được Thủ tướng chính phủ phê duyệt số 1107/QĐ-TTg ngày 21/8/2006, đi vào thực hiện đã qua 02 lần bồi thường, lần bồi thường thứ hai đã xem xét đầy đủ các khoản bồi thường theo quy định của pháp luật, người được bồi thường đã nhận tiền, nay yêu cầu bồi thường thêm là không có cơ sở chấp nhận.
Luật sư của người khởi kiện cho rằng UBND tỉnh lấy giá của chứng thư thẩm định giá hết hiệu lực để làm căn cứ giá bồi thường là không đúng. Giá của chứng thư thẩm định giá chỉ có tính chất tham khảo chứ không phải là căn cứ để tính giá bồi thường.
Về chính sách tái định cư, tại mục 2 Điều 1 Quyết định 4848/QĐ-UBND ngày 09/6/2017 thì UBND huyện Tân Tr lại có nội dung:
“Ông Lê Hữu M được bố trí 01 (một) trong các lô nền tái định cư tại khu tái định cư tọa lạc ấp 5 xã An Nhựt Tân, như sau:
- 01 lô nền loại III (Khu B từ lô số 23 – 46; Khu E từ lô số 28 – 52) diện tích 100m2/lô, với số tiền 193.120.000 đồng.
- 01 lô nền loại II (Khu C từ lô số 1 – 25) diện tích 90m2/lô, với số tiền 217.260.000 đồng.
- 01 lô nền loại II (Khu B từ lô số 1 – 22; Khu E từ lô số 01 – 27) diện tích 100m2/lô, với số tiền 241.400.000 đồng.”
Tuy nhiên, năm 2007 ông M đã bốc thăm nhận lô nền D7 và cũng đã thanh toán được 50% nhưng chưa nhận lô nền số D7 theo phiếu nhận lô nền ngày 28/12/2009. Đối chiếu với Quyết định 4848 thì việc ông M nhận lô nền D7 là không đúng theo Quyết định 4848 vì lô nền D7 không nằm trong Quyết định 4848. Do vậy, cần hủy mục 2 Điều 1 Quyết định số 4848/QĐ-UBND ngày 09/6/2017 của Ủy ban nhân dân huyện Tân Tr về chính sách tái định cư đối với ông Lê Hữu M để UBND huyện Tân Tr giải quyết lại như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ.
Về án phí: Ông M không phải chịu án phí sơ thẩm và phúc thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 2 Điều 241 Luật Tố tụng hành chính;
Chấp nhận một phần kháng cáo của ông Lê Hữu M. Sửa Bản án hành chính sơ thẩm số 71/2018/HC-ST ngày 03/4/2018 của Tòa án nhân dân tỉnh Long An.
Căn cứ Điều 30, Điều 32 và Điều 193 Luật Tố tụng hành chính; Điều 74, Điều 75, Điều 83 và Điều 86 Luật Đất đai; Điều 32 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội;
Tuyên xử:
1/. Hủy mục 2 Điều 1 của Quyết định số 4848/QĐ-UBND ngày 09/6/2017 của Ủy ban nhân dân huyện Tân Tr về chính sách tái định cư cho ông Lê Hữu M cư ngụ tại ấp 5, xã A, huyện T, tỉnh Long An.
Đề nghị Ủy ban nhân dân huyện Tân Tr giải quyết lại chính sách tái định cư cho ông Lê Hữu M.
2/. Về án phí:
- Ông Lê Hữu M không phải chịu án phí hành chính sơ thẩm; được hoàn lại 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0001134 ngày 26/01/2018 tại Cục Thi hành án dân sự tỉnh Long An.
- Ông Lê Hữu M không chịu án phí hành chính phúc thẩm; được hoàn lại 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp thay theo biên lai thu số 0001318 ngày 23/4/2018 tại Cục Thi hành án dân sự tỉnh Long An.
3/. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - Tòa án nhân dân tối cao; (1) - VKSNDCC tại TP. Hồ Chí Minh; (1) - TAND tỉnh Long An; (1) - VKSND tỉnh Long An; (1) - Cục THADS tỉnh Long An; (1) - Đương sự (3) - Lưu: VP, hồ sơ vụ án (6) 16b (MTTT) | T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Huỳnh Thanh Duyên |