vanban.org

Bản án 85/2026/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng tín dụng

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại cổ phần S đối với chị Nguyễn Thị Như T về “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”.

Buộc chị Nguyễn Thị Như T có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng Thương mại cổ phần S số tiền gốc 31.896.253 đồng và tiền lãi tính đến ngày 03-3-2026 là 9.837.199 đồng, tổng cộng là 41.733.452 đồng (Bốn mươi mốt triệu bảy trăm ba mươi ba nghìn bốn trăm năm mươi hai đồng). Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tín dụng — án dân sự — "Nguyễn Thị Như T-HDTD"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại cổ phần S đối với chị Nguyễn Thị Như T về “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”.
  • Căn cứ chính? Điều 463 Bộ luật Dân sự; Điều 466 Bộ luật Dân sự; Điều 91 Luật Các tổ chức tín dụng
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 10 - TÂY NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 85/2026/DS-ST
Ngày: 03-3-2026
Về việc: “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”.

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 10 - TÂY NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: bà Nguyễn Thị Cẩm Ly.

Các Hội thẩm nhân dân:

1/ Ông Trần Hoài Duy;

2/ Bà Nguyễn Thị Kim Linh.

- Thư ký phiên tòa: bà Đàm Nguyên Phượng - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 10-Tây Ninh.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân khu vực 10 - Tây Ninh tham gia phiên tòa: bà Nguyễn Thị Mỹ Phượng - Kiểm sát viên.

Ngày 03 tháng 3 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 10 - Tây Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 659/2025/TLST-DS ngày 13 tháng 10 năm 2025 về “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 31/2026/QĐST-DS ngày 12 tháng 01 năm 2026 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại cổ phần S; địa chỉ: 266-268 N, phường, Thành Phố H.

- Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: chị Đỗ Thị Thanh Hiền, sinh năm 1989; căn cước công dân số xxxxxxxxxxxx, cấp ngày 12-01-2022; địa chỉ: số 217-219 đường 30/4, khu phố 15, phường T, tỉnh N (vắng mặt, có đơn xin vắng mặt).

2. Bị đơn: chị Nguyễn Thị Như T, sinh năm 1987; chứng minh nhân dân số xxxxxxxxx, cấp ngày 27-3-2007; địa chỉ: khu phố H, phường T, tỉnh N (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện và quá trình giải quyết vụ án người đại diện hợp pháp của ngân hàng Thương mại cổ phần S trình bày:

Ngày 20-02-2020 chị Nguyễn Thị Như T có ký với Ngân hàng Thương mại cổ phần S (sau đây gọi tắt là Ngân hàng) hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng với hạn mức là 30.000.000 đồng. Ngày 25-02-2020 Ngân hàng phát hành thẻ tín dụng cho chị T với hạn mức là 30.000.000 đồng. Quá trình sử dụng thẻ chị T đã rút và thanh toán tiền đều đặn đến ngày 22-5-2025 đến nay chị T không thanh toán tiền nợ thẻ tín dụng cho Ngân hàng. Ngân hàng đã nhiều lần liên hệ nhắc nhở chị T yêu cầu trả số tiền nợ thẻ mà chị T còn nợ nhưng chị T không thanh toán. Do đó toàn bộ số nợ của chị T đã bị chuyển qua nợ quá hạn. Tính đến nay số tiền nợ gốc mà chị T còn nợ là 31.896.253 đồng và tiền lãi tạm tính đến ngày 03-3-2026 là 9.837.199 đồng. Nay Ngân hàng khởi kiện yêu cầu chị T trả số tiền nợ gốc và lãi này cho ngân hàng và tiếp tục trả lãi phát sinh theo thỏa thuận giữa hai bên đã ký kết trong cam kết phát hành thẻ tín dụng cho đến khi trả hết nợ cho ngân hàng.

Bị đơn chị Nguyễn Thị Như T vắng mặt nên không có phần trình bày.

Tại phiên tòa Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 10 - Tây Ninh phát biểu ý kiến:

1/Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký phiên tòa:

Thẩm phán thụ lý giải quyết vụ án thu thập chứng cứ, chuẩn bị xét xử và quyết định đưa vụ án ra xét xử đều đảm bảo đúng quy định, nội dung, thẩm quyền theo Bộ luật tố tụng dân sự. Hội đồng xét xử đã tuân theo đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Thư ký đã thực hiện đúng quy định tại Điều 51 Bộ luật Tố tụng dân sự.

2/Về chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng:

Từ khi thụ lý vụ án và tại phiên tòa hôm nay nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự, bị đơn vắng mặt không có lý do là đã từ chối quyền và nghĩa vụ tố tụng của mình.

3/Về nội dung:

Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại cổ phần S với chị Nguyễn Thị Như T, cần buộc chị T trả cho Ngân hàng số tiền nợ gốc thẻ tín dụng 31.896.253 đồng và tiền lãi tạm tính đến ngày 03-3-2026 là 9.837.199 đồng và tiếp tục trả lãi phát sinh cho đến khi trả hết nợ cho ngân hàng.

Đề nghị tính án phí theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng: người đại diện hợp pháp của nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt, bị đơn được triệu tập hợp lệ lần thứ 2 nhưng vắng mặt. Do đó, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt theo quy định tại các Điều 227, Điều 228, Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Xét yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại cổ phần S (sau đây gọi tắt là Ngân hàng) thì thấy rằng: theo các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ thể hiện ngày 20-02-2025, chị T có ký với Ngân hàng 01 đề nghị phát hành thẻ tín dụng với hạn mức thẻ 30.000.000 đồng. Theo bảng sao kê kể từ ngày ký đề nghị phát hành thẻ cho đến ngày 22-5-2025 là ngày cuối cùng chị T trả số tiền 200.000 đồng thì ngưng cho đến nay. Quá trình sử dụng thẻ tín dụng tính đến ngày ngưng giao dịch số tiền gốc mà chị T còn nợ của Ngân hàng là 31.896.253 đồng. Chị T được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt xem như từ bỏ quyền bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Như vậy có đủ căn cứ chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng yêu cầu chị T trả số tiền nợ gốc là 31.896.253 đồng và tiền lãi tính đến ngày 03-3-2026 là 9.837.199 đồng và tiếp tục trả lãi phát sinh theo đề nghị phát hành thẻ kiêm hợp đồng tín dụng cho đến khi trả hết nợ cho ngân hàng.

Từ những phân tích nêu trên chấp nhận đề nghị của Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân khu vực 10 - Tây Ninh.

Về án phí: Do chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn nên bị đơn phải chịu tiền án phí.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ các Điều 91, 95 của Luật Các tổ chức tín dụng, các Điều 463, 466 của Bộ luật Dân sự; Nghị quyết 326 của UBTVQH về án phí, lệ phí Tòa án:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại cổ phần S đối với chị Nguyễn Thị Như T về “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”.

Buộc chị Nguyễn Thị Như T có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng Thương mại cổ phần S số tiền gốc 31.896.253 đồng và tiền lãi tính đến ngày 03-3-2026 là 9.837.199 đồng, tổng cộng là 41.733.452 đồng (Bốn mươi mốt triệu bảy trăm ba mươi ba nghìn bốn trăm năm mươi hai đồng).

Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất các bên thỏa thuận trong hợp đồng. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho vay”.

2. Về án phí sơ thẩm dân sự: chị Nguyễn Thị Như T phải chịu 2.087.000 đồng (Hai triệu không tăm tám mươi bảy nghìn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm.

Ngân hàng Thương mại cổ phần S được nhận lại 813.000 đồng (Tám trăm mười ba nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí theo biên lai thu số 0006846 ngày 10 tháng 10 năm 2025 của Thi hành án dân sự tỉnh N.

Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

5. Các đương sự có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh N trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được niêm yết hoặc tống đạt hợp lệ.

T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ