- Tranh chấp gì? án hình sự — "BA 85 ĐỖ THỊ MỘNG T (173) 08.5.2025 - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Xử phạt Đỗ Thị Mộng T 04 (bốn) năm tù về tội Trộm cắp tài sản”, thời hạn tù tính từ ngày 09/8/2024.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự; Điều 38 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 8 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 85 /2025/HS-ST Ngày: 08/05/2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 8 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Hoàng Tân
- Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Đặng Thị Huê
2. Bà Nguyễn Thị Kim Hồng
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Minh Hằng - Thư ký Tòa án nhân dân Quận 8, Thành phố H.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 8, Thành phố H tham gia phiên tòa: Ông Hoàng Thiện Tiến - Kiểm sát viên.
Ngày 08 tháng 5 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 8, Thành phố H xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 87/2025/TLST-HS ngày 21/4/2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 171/2025/QĐXXST-HS ngày 25/4/2025 đối với bị cáo:
Đỗ Thị Mộng T; Giới tính: Nữ; Sinh năm 1973 tại Thành phố H; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: 769/322 Phạm Thế Hiển, Phường 4, Quận 8, Thành phố H; Chỗ ở: Ấp A, xã B, huyện C, tỉnh D; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 4/12; Nghề nghiệp: Phụ hồ; Con ông Đỗ Thành T1 và bà Nguyễn Thị Ngọc A; Bị cáo không có chồng và 01 người con sinh năm 1993;
Tiền án:
- Ngày 21/6/2001, bị Tòa án nhân Quận 5, Thành phố H xử phạt 48 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, quy định tại điểm b, c khoản 2 Điều 138 Bộ luật Hình sự năm 1999 (Bản án hình sự sơ thẩm số 77/HSST). Chi cục Thi hành án dân sự Quận 5 không thụ lý bản án nêu trên nên bị can chưa đóng án phí hình sự sơ thẩm.
- Ngày 22/01/2008, bị Tòa án nhân dân Quận 5 xử phạt 04 năm 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, theo điểm c, khoản 2 Điều 138 Bộ luật Hình sự năm 1999 (Bản án hình sự sơ thẩm số 09/2008/HSST). Ngày 26/11/2015, chấp hành xong án phạt tù. Chi cục Thi hành án dân sự Quận 5 không thụ lý bản án nêu trên nên bị can chưa đóng án phí hình sự sơ thẩm.
- Ngày 11/01/2022, bị Tòa án nhân dân Quận 5, Thành phố H xử phạt 02 năm 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, theo điểm g, khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) (Bản án hình sự sơ thẩm số 10/2022/HS-ST). Ngày 13/11/2023, chấp hành xong toàn bộ bản án hình sự sơ thẩm.
Tiền sự: không.
Nhân thân:
- Ngày 18/6/1997, bị Tòa án nhân dân Quận 8, Thành phố H xử phạt 18 tháng tù về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản của công dân”, quy định tại khoản 1 Điều 158 Bộ luật Hình sự năm 1985 (Bản án hình sự sơ thẩm số 121/STHS). Đến ngày 28/9/2012, bị can đủ điều kiện miễn nghĩa vụ thi hành án và được đình chỉ thi hành án đối với khoản thu nộp ngân sách nhà nước.
- Ngày 20/3/1999, bị Tòa án nhân dân Quận 8, Thành phố H xử phạt 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản của công dân”, quy định tại khoản 1 Điều 155 Bộ luật Hình sự năm 1985, sửa đổi năm 1991 (Bản án hình sự sơ thẩm số 63/STHS). Đến ngày 15/7/2009, chấp hành xong toàn bộ bản án hình sự sơ thẩm.
- Ngày 18/01/2015, bị Công an Phường 9, quận Phú Nhuận xử phạt hành chính số tiền 3.500.000 đồng về hành vi “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”.
- Ngày 02/12/2015, bị Tòa án nhân dân Quận 6, Thành phố H xử phạt 03 năm 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, quy định tại điểm c, khoản 2 Điều 138 Bộ luật Hình sự năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009) (Bản án hình sự sơ thẩm số 139/2015/HSST). Tháng 7/2016, nộp án phí hình sự sơ thẩm và đã chấp hành xong toàn bộ bản án.
Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 09/8/2024 tại Trại tạm giam Chí Hòa – Phân trại tạm giam khu vực Quận 8. (Bị cáo có mặt)
Bị hại:
Bà Trương Thị Kim A1; Nơi cư trú: tổ d, khu phố e2, thị trấn F, huyện G, tỉnh L (Vắng mặt)
Người có quyền lợi, nghịa vụ liên quan:
Bà Nguyễn Thị T H1; Địa chỉ: 1ấp 3, xã P, huyện T, tỉnh L. (Vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 14 giờ 00 phút ngày 04/8/2024, Đỗ Thị Mộng T điều khiển xe mô tô hiệu Wanye, biển số 62F3-7396 đến khu vực chợ trên đường Bùi Minh Trực, Phường 5, Quận 8 để mua đồ ăn. Do trời mưa nên T dựng xe cạnh nhà số 40 Bùi Minh Trực, Phường 5, Quận 8 mua ly chè, rồi đi qua bên kia đường chỗ sạp bỏ trống, cạnh tiệm rau củ của chị Trương Thị Kim A1, tại trước nhà số 29A Bùi Minh Trực, Phường 5, Quận 8 ngồi ăn và trú mưa. Lúc này, T phát hiện chị A1 cất tiền bán hàng trong 01 túi nylon màu đen, bên ngoài bọc lại bằng 01 túi nylon màu trắng, rồi để túi nylon trên tại phía trên đống rau cải trong góc sạp trước nhà số 29A Bùi Minh Trực mà không người trông coi, nên T nảy sinh ý định lấy trộm cắp tài sản để tiêu xài. Sau đó, T ngồi quan sát chị A1 để lợi dụng sơ hở sẽ thực hiện hành vi chiếm đoạt. Đến khoảng 14 giờ 47 phút cùng ngày, T thấy chị A1 đang bận bán hàng cho chị Huỳnh Lê Phương Uyên là khách đến mua rau, mà không chú ý đến túi tiền nên T lẻn đi bộ vòng ra phía sau lưng chị A1, đi vào trong sạp rau trước nhà số 29A Bùi Minh Trực và dùng tay trái lấy trộm túi nylon đựng tiền trên, rồi cầm túi nylon trên bằng tay trái đi ra khỏi sạp. Ngay lúc này, T nhìn thấy chị U nên T giơ tay phải lên vẫy chào mục đích giả vờ như người quen, rồi T đi bộ băng qua đường leo lên ngồi trên xe biển số 62F3-7396 thì thấy chị Utiếp tục nhìn nên T giơ tay phải lên vẫy chào một lần nữa, rồi điều khiển xe biển số 62F3-7396 cầm theo túi nylon đựng tiền của chị A1 trên tay trái (để gác lên tay lái xe) chạy về hướng ngã ba đường Bông Sao, Phường 5, Quận 8 rồi rẽ phải, đến ngã ba trước quán ốc “2 Cu” thì rẽ phải chạy về khu vực bô rác sau chùa Liên Hoa. T dừng lại mở túi nylon ra kiểm tra thì thấy bên trong túi có nhiều tiền để lẫn lộn với nhau và 01 điện thoại di động hiệu Xiaomi Redmi A1 màu xanh. T liền đếm tiền được tổng cộng là 21.010.000 đồng, gồm có 04 tờ mệnh giá 500.000 đồng, 05 tờ mệnh giá 2.000 đồng và nhiều tờ mệnh giá khác (T không nhớ rõ). T cất tiền và điện thoại vào túi áo khoác đang mặc, rồi vứt bỏ 02 túi nylon bọc bên ngoài vào thùng rác. Sau đó, T tiếp tục điều khiển xe biển số 62F3-7396 đến khu vực Bình Đăng, Phường 6, Quận 8 bán chiếc điện thoại của chị A1 cho 01 người phụ nữ (không rõ lai lịch) chuyên mua bán đồ cũ dạo ở lề đường với giá 600.000 đồng và đi về nhà ở Tiền Giang tiêu xài hết số tiền có được từ việc phạm tội.
Sau khi phát hiện bị mất tài sản, ngày 04/8/2024, chị Trương Thị Kim A1 đến Công an Phường 5, Quận 8 trình báo. Vụ việc được chuyển đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 8 xác minh, làm rõ.
Qua truy xét, ngày 06/8/2024, Đỗ Thị Mộng T đang điều khiển xe mô tô biển số 62F3-7396 đến trước Trường tiểu học Bông Sao, Phường 5, Quận 8 thì bị Cơ quan điều tra mời về làm việc. Tại đây, Đỗ Thị Mộng T đã khai nhận hành vi lấy trộm 21.010.000 đồng và 01 điện thoại di động hiệu Xiaomi Redmi A1 màu xanh của chị Trương Thị Kim A1 như nội dung nêu trên, phù hợp lời khai của bị hại, người làm chứng và các tài liệu khác có tại hồ sơ.
Tại Bản kết luận định giá tài sản số 116 ngày 31/12/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự Quận 8, kết luận: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Xiaomi redmi A1, màu xanh, tỷ lệ còn lại 35% có giá là 766.500 đồng. Như vậy, tổng giá trị tài sản bị can Đỗ Thị Mộng T chiếm đoạt của bị hại Trương Thị Kim A1 là 21.776.500 đồng.
Tại cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân Quận 8, Thành phố H đã truy tố đối với bị cáo Đỗ Thị Mộng T về tội “Trộm cắp tài sản”, theo quy định tại điểm g, khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017);
Ngoài ra cáo trạng còn xác định:
Đối với người phụ nữ (không rõ lai lịch) khi mua điện thoại di động Xiaomi Redmi A1 màu xanh của bị can T, do không xác định được nhân thân, lai lịch cụ thể nên Cơ quan điều tra tiếp tục truy xét, khi nào làm rõ sẽ tiến hành xử lý sau.
Tại phiên tòa hôm nay:
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 8, Thành phố H có ý kiến: Sau khi phân tích tính chất, mức độ hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ của bị cáo, đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 8, Thành phố H giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
Áp dụng điểm g khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Xử phạt bị cáo từ 04 – 05 năm tù. Buộc bị cáo bồi thường cho bị hại theo quy định.
Bị cáo trình bày: Bị cáo thừa nhận hành vi như cáo trạng truy tố, bị cáo rất hối hận về hành vi của mình, mong Hội đồng xét xử xem xét khoan hồng.
Quá trình tranh luận, đối đáp đại diện Viện kiểm sát cũng như bị cáo giữ nguyên quan điểm như đã nêu, không phát sinh tình tiết nào mới
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về căn cứ áp dụng pháp luật: Bộ luật Hình sự áp dụng trong vụ án này là Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) với nguyên tắc xử lý nghiêm trị đối với người chủ mưu, cầm đầu. Khoan hồng với người tự thú, thành khẩn khai báo, tố giác người đồng phạm, lập công chuộc tội, ăn năn hối cải, tự nguyện sửa chữa hoặc bồi thường thiệt hại gây ra theo quy định tại Điều 3 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Về nội dung vụ án: Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như cáo trạng đã truy tố, căn cứ vào lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa hôm nay, lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, lời khai của bị hại, những người liên quan, vật chứng thu giữ trong vụ án cùng với các tài liệu, chứng cứ khác mà cơ quan điều tra đã thu thập được trong quá trình tố tụng. Trên cơ sở xem xét đánh giá công khai các chứng cứ một cách đầy đủ và toàn diện nhất, Hội đồng xét xử nhận định về nội dung vụ án như sau:
Vào này 04/8/2024 tại trước nhà số 29A Bùi Minh Trực, Phường 5, Quận 8, bị cáo Đỗ Thị Mộng T đã có hành vi lén lút lấy trộm của bà Trương Thị Kim A1 số tiền 21.010.000 đồng và 01 điện thoại di động Xiaomi Redmi A1 màu xanh (tiền và điện thoại để trong 01 túi nylon màu đen, bên ngoài bọc lại bằng 01 túi nylon màu trắng), theo kết quả của Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự thì chiếc điện thoại có giá trị là 766.500 đồng. Như vậy, tổng giá trị tài sản mà bị cáo đã chiếm đoạt được xác định là 21.776.500 đồng.
Theo đó, bị cáo là người đã thành niên, có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự Bị cáo đã từng bị xét xử nhiều lần về tội chiếm đoạt tài sản, bị cáo có 03 tiền án chưa được xóa án tích tại bản án xét xử năm 2022, đã bị xác định là tái phạm nguy hiểm nhưng đến nay bị cáo lại tiếp tục phạm tội do cố ý, bị cáo hoàn toàn nhận thức được hành vi của mình là trái pháp luật nhưng chỉ vì lười lao động, muốn có tiền tiêu xài nên bị cáo đã cố ý thực hiện hành vi phạm tội.
Với các tình tiết của vụ án đã được chứng minh tại phiên tòa, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở xác định hành vi của bị cáo Đỗ Thị Mộng T đã phạm vào tội: “Trộm cắp tài sản”, theo điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) như Viện kiểm sát nhân dân Quận 8, Thành phố H đã truy tố là đúng người, đúng tội, không oan sai.
Tội phạm do bị cáo gây ra đã xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự xã hội tại địa phương, bên cạnh đó bị cáo có nhân thân xấu nên cần phải xử lý nghiêm, cần có một hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ phạm tội của bị cáo để răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội.
Hội đồng xét xử xét bị cáo là người không có nghề nghiệp ổn định, hoàn cảnh kinh tế khó khăn nên xét không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Khi lượng hình, Hội đồng xét xử có xem xét bị cáo có thái độ khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải để áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) giảm nhẹ một phần trách nhiệm hình sự đối với bị cáo.
Nhận định trên cũng là nhận định của Hội đồng xét xử để chấp nhận quan điểm luận tội cũng như mức hình phạt mà Đại diện Viện kiểm sát đã đề nghị đối với bị cáo tại phiên tòa.
Về trách nhiệm dân sự:
Bà Trương Thị Kim A1 vắng mặt tại phiên tòa và có yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền 21.776.500 đồng, gồm 21.010.000 đồng và 766.500 đồng là giá trị của 01 điện thoại di động nhãn hiệu Xiaomi redmi A1, màu xanh, bị chiếm đoạt và không yêu cầu gì thêm. Bị cáo thừa nhận yêu cầu này là thỏa đáng và đồng ý bồi thường. Hội đồng xét xử xét cần ghi nhận sự tự nguyện của bị cáo.
Đối với 01 xe mô tô biển số 62F3-7396, số máy: WYJ152FMG-99120933, số khung đã bị đục, là phương tiện T sử dụng khi thực hiện hành vi trộm cắp tài sản. T khai nhận: Vào khoảng năm 2023, T mua lại chiếc xe trên của Tuấn (chưa rõ lai lịch), là bạn làm phụ hồ với giá 1.000.000 đồng và T đã làm mất giấy đăng ký xe. Kết quả xác minh được biết: Chiếc xe trên do chị Nguyễn Thị T H1, ngụ tại tỉnh Long An đứng tên sở hữu nhưng chị H1 không đăng ký thường trú và không thực tế cư trú tại địa chỉ trên. Ngày 02/01/2025, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 8 đã đăng báo tìm thông tin chủ sở hữu chiếc xe trên, đến nay chưa có ai liên hệ làm việc. Hội đồng xét xử xét thấy cần tiếp tục đăng báo tìm chủ sở hữu sau 01 năm nếu không ai đến nhận thì tịch thu sung vào ngân sách nhà nước.
Tiếp tục lưu hồ sơ vụ án 01 USB hiệu Kingston 32GB, màu tím,.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ điểm g khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Xử phạt Đỗ Thị Mộng T 04 (bốn) năm tù về tội Trộm cắp tài sản”, thời hạn tù tính từ ngày 09/8/2024.
Căn cứ Điều 48 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2021).
Buộc bị cáo Đỗ Thị Mộng T bồi thường cho bà Trương Thị Kim A1 số tiền 21.776.500 (hai mươi mốt triệu bảy trăm bảy mươi sáu nghìn năm trăm) đồng.
Tiếp tục đăng báo tìm chủ sở hữu đối với 01 xe mô tô biển số 62F3-7396, số máy: WYJ152FMG-99120933, số khung đã bị đục. Nếu sau 01 năm không xác định được chủ sở hữu thì tịch thu sung vào ngân sách nhà nước.
(Theo biên bản tang vật ngày….của cục thi hành án dân sự Quận 8)
Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 1.088.825 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
Bị cáo được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày 09/05/2025; Bị hại, đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
| Nơi nhận: - Bị cáo; - VKSND Quận 8; - VKSND TP. HCM; - CQCSĐT CA TP. HCM; - CQTHA HS CA TP. HCM; - Phân trại tạm giam Khu vực; Quận 8 - Trại tạm giam Chí Hòa; - Chi cục THADS Quận 8; - Người tham gia tố tụng khác; - TAND TP. HCM; - Sở Tư pháp TP. HCM; - PV06; - Lưu: HS, VT. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Hoàng Tân |