vanban.org

Bản án 85/2025/HS-ST — Hình sự

Tòa án nhân dân khu vực 1 - Cần Thơ, TP. Cần Thơ Tuyên án 15/05/2025 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Trang Sĩ Q (Đen), bị cáo Thái Vĩnh P phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

Xử phạt bị cáo Trang Sĩ Q (Đen) 01 (một) năm tù. Thời hạn phạt tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án. Xử phạt bị cáo Thái Vĩnh P 01 (một) năm 09 (chín) tháng tù. Thời hạn phạt tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Cố ý gấy thương tích - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa đổi, bổ sung một số điề…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Trang Sĩ Q (Đen), bị cáo Thái Vĩnh P phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
QUẬN NINH KIỀU
THÀNH PHỐ CẦN THƠ
–––––––––––––––

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 85/2025/HS-ST
Ngày: 15-5-2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NINH KIỀU, THÀNH PHỐ CẦN THƠ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kim Phượng.

Các Hội thẩm nhân dân:

- Ông Trần Ngọc Bích.

- Bà Trần Thị Dung.

- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Thanh Tuấn – Thư ký Tòa án nhân dân quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ tham gia phiên tòa: Ông Bùi Hữu Hưng – Kiểm sát viên.

Ngày 15 tháng 5 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 54/2025/TLST-HS ngày 04 tháng 3 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 267/2025/QĐXXST-HS ngày 31 tháng 3 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 117/2025/HSST-QĐ ngày 25 tháng 4 năm 2025 đối với các bị cáo:

1. Trang Sĩ Qúi (Đen), sinh ngày 20-01-2005 tại Cần Thơ. Nơi cư trú: Khu vực P, phường T, quận T, thành phố Cần Thơ; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ văn hoá: 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Phật; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trang Sĩ K (sống) và bà Lê Thị Đ (sống); bị cáo chưa có vợ con; tiền án, tiền sự: Chưa. Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú (có mặt tại phiên tòa).

2. Thái Vĩnh P, sinh ngày 23-02-2004 tại Cần Thơ. Nơi cư trú: Khu vực P, phường T, quận T, thành phố Cần Thơ; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ văn hoá: 11/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Thái Vĩnh L (sống) và bà Nguyễn Kim T (sống); bị cáo chưa có vợ con; tiền án: Chưa; tiền sự: 01 lần; ngày 04-11-2022 bị Công an quận T, thành phố Cần Thơ xử phạt 6.500.000 đồng về hành vi cố ý gây thương tích, đến ngày 26-02-2025 đã đóng phạt xong. Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú (có mặt tại phiên tòa).

- Bị hại:

Ông Nguyễn Thái T1. Địa chỉ: Khu V, phường T, quận T, thành phố Cần Thơ. (có mặt).

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

+ Ông Trang Sĩ K. Địa chỉ: Khu V, phường T, quận T, thành phố Cần Thơ. (có mặt).

+ Bà Trang Kim H. Địa chỉ: Khu V, phường T, quận T, thành phố Cần Thơ. (có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Do Nguyễn Thái T1 có mâu thuẫn với bạn gái của Trang Sĩ Q nên vào khoảng 01 giờ 00 phút ngày 17-8-2024, Q hẹn T1 đến quán ốc đêm Huy Hưng L1, địa chỉ số C, đường N, phường H, quận N, thành phố Cần Thơ để nói chuyện, giải quyết mâu thuẫn. Sau đó, Q rủ Thái V cùng đi, P đồng ý và lấy theo 01 cây dao giấu vào túi áo khoác; Q điều khiển xe mô tô biển số 65F1-131.72 chở Thái V đến điểm hẹn, khoảng 10 phút sau thì Nguyễn Thái T1 được Trần Gia P1 chở đến. T1 đi đến chỗ Qúi nói chuyện, Q yêu cầu T1 phải xin lỗi bạn gái của Q, T1 không đồng ý thì cả hai xảy ra cự cãi, Q lao vào dùng tay không đánh T1, T1 cũng đánh trả lại Q, lúc này Thái Vĩnh P lao đến dùng dao đã mang theo chém vào tay phải của T1; bị chém T1 và P1 bỏ chạy, Q và P cũng điều khiển xe mô tô bỏ chạy về phòng trọ của Q thuê ở đường T, phường A, quận N, thành phố Cần Thơ để cất giấu dao.

Nguyễn Thái T1 được Trần Gia P1 đưa vào Bệnh viện Đ2 để cấp cứu và điều trị. Cùng ngày bà La Thị M đến Công an phường H trình báo sự việc.

Vật chứng tạm giữ: 01 con dao Thái Lan cán gỗ, dài 28 cm; 01 đôi dép cao su màu trắng; 01 áo khoác màu đen sọc trắng; 01 quần vải ngắn màu đen có sọc trắng (thu giữ của Thái V); 01 nón bảo hiểm màu trắng, phần mũi màu đen; 01 đôi dép màu đen; 01 áo khoác màu đen; 01 quần vải ngắn màu đen; 01 xe mô tô nhãn hiệu Wave @ màu đen biển số 65F1-131.72, số khung 1209AY121481, số máy HC12E2621522 (thu giữ của Trang Sĩ Q).

Tại Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số: 480/KLTTCT-TTPYCT ngày 01-10-2024 của Trung tâm Pháp y - Sở Y tế thành phố C kết luận đối với thương tích của Nguyễn Thái T1:

- Vết thương mặt sau ngoài 1/3 giữa đến 1/3 dưới cẳng tay phải gây đứt gân dạng ngón cái, gân duỗi cổ tay quay, gân duỗi ngón 2 và nhánh nông thần kinh quay đã được điều trị phẫu thuật khâu gân cơ, khâu thần kinh, khâu vết thương. Hiện tại vị trí vết thương đã lành, để lại sẹo, nhánh nông thần kinh quay phục hồi tốt, không ảnh hưởng chức năng.

- Vết sây sát da không liên tục vùng bả vai phải đã được điều trị. Hiện tại vị trí sây sát da đã lành, để lại vết biến đổi sắc tố da, không ảnh hưởng chức năng.

Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Nguyễn Thái T1 tại thời điểm giám định là 14%. Cơ chế hình thành: Vết thương mặt sau ngoài 1/3 giữa đến 1/3 dưới cẳng tay phải phù hợp với cơ chế do vật sắc gây nên. Sây sát da không liên tục vùng bả vai phải phù hợp với cơ chế do vật tày gây nên.

Tại Cơ quan điều tra bị cáo Trang Sĩ Q và Thái Vĩnh P đều khai nhận: Khi gặp bị hại T1 nói chuyện, giải quyết mâu thuẫn và yêu cầu T1 xin lỗi bạn gái Q không được nên Q đã đánh T1, T1 đánh trả lại thì bị Thái Vĩnh P dùng dao, loại dao Thái Lan chém vào tay phải của T1 gây thương tích 14%. Dao P dùng chém T1 được lấy từ phòng trọ của Q, sau khi chém gây thương tích đối với bị hại thì 02 bị cáo đem dao về phòng trọ của Q cất giấu.

Về trách nhiệm dân sự: Gia đình của 02 bị cáo đã bồi thường số tiền 15.000.000 đồng cho bị hại Nguyễn Thái T1. Ngày 05-12-2024, Nguyễn Thái T1 có đơn rút yêu cầu khởi tố vụ án hình sự và xin bãi nại cho bị cáo Trang Sĩ Q và Thái V.

Cáo trạng số 73/CT-VKSNK ngày 03-03-2025 của Viện kiểm sát nhân dân quận Ninh Kiều truy tố bị cáo Trang Sĩ Q (Đ1) và bị cáo Thái Vĩnh P về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) (viết tắt BLHS 2015).

Tại phiên tòa:

- Kiểm sát viên giữ nguyên quan điểm truy tố của Viện kiểm sát đối với các bị cáo theo tội danh và điều khoản như nội dung cáo trạng. Sau khi phân tích tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội và nhân thân của các bị cáo, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng:

+ Đối với bị cáo Trang Sĩ Q (Đen): Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 38, Điều 54 BLHS 2015 tuyên bố bị cáo Trang Sĩ Q (Đen) phạm tội “Cố ý gây thương tích”, xử phạt bị cáo mức án từ 01 (một) năm đến 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù.

+ Đối với bị cáo Thái Vĩnh P: Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 38, Điều 54 BLHS 2015 tuyên bố bị cáo Trang Sĩ Q (Đen) phạm tội “Cố ý gây thương tích”, xử phạt bị cáo mức án từ 01 (một) năm 06 (sáu) tháng đến 02 (hai) năm tù.

Miễn hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự: Ghi nhận tự nguyện của bà Trang Kim H đã thay bị cáo Q và bị cáo P bồi thường cho bị hại số tiền 15.000.000 đồng, bị hại không có yêu cầu gì thêm.

Về vật chứng: Đề nghị áp dụng Điều 47 BLHS 2015 và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 để xử lý vật chứng:

+ Tịch thu tiêu huỷ: 01 con dao Thái Lan cán gỗ, dài 28 cm; 01 đôi dép cao su màu trắng; 01 áo khoác màu đen sọc trắng; 01 quần vải ngắn màu đen có sọc trắng; 01 nón bảo hiểm màu trắng, phần mũi màu đen; 01 đôi dép màu đen; 01 áo khoác màu đen; 01 quần vải ngắn màu đen.

+ Trả lại cho ông Trang Sĩ K: 01 xe mô tô nhãn hiệu Wave @ màu đen, biển số 65F1-131.72, đã qua sử dụng.

- Bị hại ông Nguyễn Thái T1 không yêu cầu các bị cáo bồi thường gì thêm và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Trang Sĩ K xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Trang Kim H không yêu cầu các bị cáo trả lại số tiền 15.000.000 đồng và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

Các bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội như nội dung Cáo trạng Viện kiểm sát truy tố, các bị cáo không tranh luận với Viện kiểm sát về tội danh và hình phạt. Lời nói sau cùng: Bị cáo Q nhận thấy hành vi sai trái, ăn năn hối cải và mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt; bị cáo P đề nghị Hội đồng xét xử xem xét theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận N, thành phố Cần Thơ, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Ninh Kiều, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Lời khai nhận của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với kết luận điều tra, phù hợp với nội dung bản cáo trạng, với lời khai của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án nên có cơ sở kết luận:

Do bị hại Nguyễn Thái T1 có mâu thuẫn với bạn gái của bị cáo Trang Sĩ Q nên vào khoảng 01 giờ 00 phút ngày 17-8-2024, bị cáo Q hẹn T1 đến quán ốc đêm Huy Hưng L1, địa chỉ số C, đường N, phường H, quận N, thành phố Cần Thơ để nói chuyện, giải quyết mâu thuẫn. Sau đó, Q rủ Thái V cùng đi, P đồng ý và lấy theo 01 cây dao giấu vào túi áo khoác; Q điều khiển xe mô tô biển số 65F1-131.72 chở Thái V đến điểm hẹn, Nguyễn Thái T1 được Trần Gia P1 chở đến. Khi gặp bị hại T1 nói chuyện, giải quyết mâu thuẫn và yêu cầu T1 xin lỗi bạn gái Q không được nên Q đã dùng tay đánh T1, T1 đánh trả lại thì bị Thái Vĩnh P dùng dao, loại dao Thái Lan chém vào tay phải của T1, T1 và P1 bỏ chạy, hai bị cáo điều khiển xe mô tô bỏ chạy về phòng trọ của bị cáo Q thuê ở đường T, phường A, quận N, thành phố Cần Thơ để cất giấu dao. Bị hại T1 được P1 đưa vào Bệnh viện Đ2 để cấp cứu và điều trị.

Tại Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số: 480/KLTTCT-TTPYCT ngày 01-10-2024 của Trung tâm Pháp y - Sở Y tế thành phố C kết luận đối với thương tích của Nguyễn Thái T1:

- Vết thương mặt sau ngoài 1/3 giữa đến 1/3 dưới cẳng tay phải gây đứt gân dạng ngón cái, gân duỗi cổ tay quay, gân duỗi ngón 2 và nhánh nông thần kinh quay đã được điều trị phẫu thuật khâu gân cơ, khâu thần kinh, khâu vết thương. Hiện tại vị trí vết thương đã lành, để lại sẹo, nhánh nông thần kinh quay phục hồi tốt, không ảnh hưởng chức năng.

- Vết sây sát da không liên tục vùng bả vai phải đã được điều trị. Hiện tại vị trí sây sát da đã lành, để lại vết biến đổi sắc tố da, không ảnh hưởng chức năng.

Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Nguyễn Thái T1 tại thời điểm giám định là 14%. Cơ chế hình thành: Vết thương mặt sau ngoài 1/3 giữa đến 1/3 dưới cẳng tay phải phù hợp với cơ chế do vật sắc gây nên. Sây sát da không liên tục vùng bả vai phải phù hợp với cơ chế do vật tày gây nên.

Bị cáo Q chỉ vì mâu thuẫn cá nhân mà bị cáo đã dùng tay đánh bị hại, bị cáo P dùng dao bằng kim loại là hung khí nguy hiểm chém bị hại gây thương tích 14%, hành vi của các bị cáo thể thiện tính côn đồ. Như vậy, hành vi của các bị cáo đã có đủ yếu tố cấu thành tội “Cố ý gây thương tích ” với tình tiết định khung “Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% đến 30% nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 BLHS 2015. Do vậy, cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố đối với các bị cáo là có căn cứ, đúng pháp luật.

Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, đã tác động gia đình khắc phục hậu quả, bồi thường cho bị hại, bị hại có đơn xin bãi nại và rút đơn yêu cầu khởi tố hình sự, có yêu cầu giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo nên thuộc tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS 2015; tình tiết này là căn cứ để xem xét giảm nhẹ mức hình phạt dành cho các bị cáo. Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Riêng bị cáo P, có nhân thân xấu, ngày 04-11-2022 bị Công an quận T, thành phố Cần Thơ xử phạt hành chính về hành vi cố ý gây thương tích vào năm 2022 nên bị cáo vẫn còn tiền sự.

Hành vi dùng tay đánh, dùng dao Thái Lan (là hung khí nguy hiểm) chém vào cẳng tay phải của bị hại mà các bị cáo thực hiện là hành vi nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến sức khỏe của người khác được pháp luật bảo vệ, gây mất an ninh trật tự tại địa phương.

Trong vụ án này, bị cáo Q là người chủ mưu, rủ rê bị cáo P đi gặp bị hại để giải quyết mâu thuẫn. Bị cáo P là người trực tiếp dùng dao Thái Lan chém vào cẳng tay phải của bị hại, sau khi gây án bị cáo Q chở bị cáo P về phòng trọ và tiếp tục đem dao cất giấu, do đó các bị cáo phải cùng chịu trách nhiệm hình sự về hành vi phạm tội với vai trò đồng phạm. Giữa các bị cáo không có bàn bạc vai trò cụ thể, chưa có sự câu kết chặt chẽ nên chỉ là đồng phạm giản đơn.

Các bị cáo đã trưởng thành, đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi gây thương tích cho người khác là vi phạm pháp luật nhưng vì mâu thuẫn cá nhân mà các bị cáo bất chấp hậu quả gây ra cho bị hại, thể hiện tính xem thường pháp luật. Do vậy, hành vi này cần cần có mức hình phạt tương xứng cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để giáo dục, răn đe các bị cáo, có như vậy mới giúp các bị cáo tâm đắc sửa đổi bản thân, sống phải biết đặt mình trong khuôn khổ của pháp luật, đồng thời phòng ngừa tội phạm chung trong xã hội.

Tuy nhiên, Hội đồng xét xử cũng căn cứ vào nhân thân của các bị cáo và căn cứ vào Điều 58 BLHS 2015 để xem xét vai trò phạm tội của từng bị cáo trong vụ án nhằm đưa ra mức hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của từng bị cáo, cụ thể: Bị cáo Q mặc dù là người chủ mưu, rủ rê bị cáo P nhưng bị cáo chỉ dùng tay đánh bị hại; bị cáo P là người trực tiếp dùng dao chém bị hại gây thương tích và bị cáo P cũng còn tiền sự về hành vi cố ý gây thương tích nên mức hình phạt của bị cáo Q sẽ có phần thấp hơn bị cáo P. Hội đồng xét xử xét thấy, các bị cáo có 02 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự tại khoản 1 Điều 51 BLHS 2015 nên Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 54 BLHS 2015 xử phạt các bị cáo dưới mức thấp nhất của khung hình phạt là phù hợp với toàn bộ diễn biến hành vi các bị cáo thực hiện, thể hiện được chính sách khoan hồng của pháp luật.

Về trách nhiệm dân sự:

- Bị hại Nguyễn Thái T1 đã nhận tiền bồi thường và không có yêu cầu gì thêm nên không đặt ra xem xét.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Trang Kim H không có yêu cầu các bị cáo trả lại số tiền bà đã bồi thường cho bị hại nên không đặt ra xem xét.

Về xử lý vật chứng:

+ Đối với 01 con dao Thái Lan cán gỗ, dài 28 cm là phương tiện các bị cáo dùng để gây thương tích cho bị hại, không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.

+ Đối với 01 đôi dép cao su màu trắng; 01 áo khoác màu đen sọc trắng; 01 quần vải ngắn màu đen có sọc trắng là tài sản cá nhân của bị cáo Thái Vĩnh P sử dụng khi thực hiện hành vi phạm tội, không có giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.

+ Đối với 01 nón bảo hiểm màu trắng, phần mũi màu đen; 01 đôi dép màu đen; 01 áo khoác màu đen; 01 quần vải ngắn màu đen là tài sản cá nhân của bị cáo Trang Sĩ Q sử dụng khi thực hiện hành vi phạm tội, không có giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.

+ Đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu Wave @ màu đen biển số 65F1-131.72, số khung 1209AY121481, số máy HC12E2621522 thu giữ của bị cáo Trang Sĩ Q do ông Trang Sĩ K đứng tên chủ sở hữu. Bị cáo Q sử dụng xe để chở bị cáo P đi đánh nhau gây thương tích thì ông K không biết nên trả lại xe cho ông K.

Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ vào: Điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17, Điều 38, Điều 54, Điều 58 BLHS 2015

Tuyên bố bị cáo Trang Sĩ Q (Đen), bị cáo Thái Vĩnh P phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

Xử phạt bị cáo Trang Sĩ Q (Đen) 01 (một) năm tù. Thời hạn phạt tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án.

Xử phạt bị cáo Thái Vĩnh P 01 (một) năm 09 (chín) tháng tù. Thời hạn phạt tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án.

2. Về trách nhiệm dân sự: Không đặt ra xem xét.

3. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 BLHS 2015 và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015

+ Tịch thu tiêu hủy: 01 con dao Thái Lan cán gỗ, dài 28 cm; 01 đôi dép cao su màu trắng; 01 áo khoác màu đen sọc trắng; 01 quần vải ngắn màu đen có sọc trắng; 01 nón bảo hiểm màu trắng, phần mũi màu đen; 01 đôi dép màu đen; 01 áo khoác màu đen; 01 quần vải ngắn màu đen.

+ Trả lại cho ông Trang Sĩ K: 01 xe mô tô nhãn hiệu Wave @ màu đen biển số 65F1-131.72, số khung 1209AY121481, số máy HC12E2621522, đã qua sử dụng.

(Vật chứng do Chi cục Thi hành án dân sự quận Ninh Kiều đang quản lý – Theo biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản ngày 04-3-2025).

4. Về án phí: Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án bị cáo, bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo.

Cỡ chữ