vanban.org

Bản án 85/2025/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Nghị quyết số 01/2025/NQ-HĐTP ngày 27 tháng 6 năm 2025 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội hướng dẫn áp dụng một số quy định về tiếp nhận nhiệm vụ, thực hiện thẩm quyền của các tòa án nhân dân;

Tuyên xử: Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, bà Trương Thị Việt H được ly hôn ông Lê Minh H1. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Trương Thị Việt H - Lê Minh H1"
  • Tòa quyết gì? Nghị quyết số 01/2025/NQ-HĐTP ngày 27 tháng 6 năm 2025 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội hướng dẫn áp dụng một số quy định về tiếp nhận nhiệm vụ, thực hiện thẩm quyền của các tòa án nhân dân;
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Nghị quyết số 01/2025/NQ-HĐTP Hướng dẫn áp dụng một số quy đ…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 1 - KHÁNH HÒA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 85/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 30 - 9 - 2025
V/v ly hôn, tranh chấp về
con chung khi ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 - KHÁNH HÒA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mỹ Hạnh

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Đặng Trần Khoa

2. Ông Nguyễn Xuân Vinh

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Phương - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 1 - Khánh Hòa.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 - Khánh Hòa tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Huyền - Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 9 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 1 - Khánh Hòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 1148/2024/TLST-HNGĐ ngày 17 tháng 12 năm 2024 về việc “Ly hôn, con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 40/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 25 tháng 8 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 46/2025/QĐST-HNGĐ ngày 11 tháng 9 năm 2025 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Bà Trương Thị Việt H, sinh năm 1985

Địa chỉ: Thôn T, xã S, huyện C, tỉnh Khánh Hòa (nay là xã S, tỉnh Khánh Hòa). Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt.

2. Bị đơn: Ông Lê Minh H1, sinh năm 1978

Địa chỉ: A Đường B, khóm P, phường V, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa (nay là phường B, tỉnh Khánh Hòa). Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Trương Thị Việt H trình bày:

Bà và ông Lê Minh H1 tự nguyện kết hôn với nhau vào năm 2014, được Ủy ban nhân dân xã S, huyện C, tỉnh Khánh Hòa (nay là xã S, tỉnh Khánh Hòa) cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 31/2014, quyển số I, ngày 18/4/2014.

Hai năm gần đây, vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, không thể tiếp tục sống chung. Hiện cả hai đã ly thân hơn một năm. Do đó, bà khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông Lê Minh H1.

Về con chung: Bà và ông H1 có 02 (hai) con chung là Lê Tuệ L1, sinh ngày 16/12/2013 và Lê Tuệ L, sinh ngày 25/3/2020. Bà đề nghị giao 02 con chung cho bà trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Bà không yêu cầu ông H1 cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung và nợ chung: Bà không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bà xin vắng mặt tại phiên tòa xét xử.

Quá trình giải quyết vụ án, bị đơn ông Lê Minh H1 không đến Tòa án để làm việc, do đó, Tòa án không thể tiến hành lấy lời khai của bị đơn và không tiến hành hòa giải được.

Tại phiên tòa sơ thẩm, đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 - Khánh Hòa phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án:

Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của những người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã chấp hành đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; nguyên đơn đã thực hiện đúng, đầy đủ quyền, nghĩa vụ tố tụng; bị đơn không thực hiện đúng, đầy đủ quyền, nghĩa vụ tố tụng theo các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, bà Trương Thị Việt H được ly hôn ông Lê Minh H1. Về con chung: Giao cháu Lê Tuệ L1, sinh ngày 16/12/2013 và Lê Tuệ L, sinh ngày 25/3/2020 cho bà Trương Thị Việt H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Về cấp dưỡng nuôi con: Bà H không yêu cầu nên không xem xét. Về tài sản chung và nợ chung: Bà H không yêu cầu giải quyết nên không xem xét. Về chi phí tố tụng và án phí, bà H phải chịu chi phí tố tụng và án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra công khai tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thủ tục tố tụng:

Bà Trương Thị Việt H khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn và con chung khi ly hôn với ông Lê Minh H1, cư trú tại phường V, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa (nay là phường B, tỉnh Khánh Hòa). Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Nghị quyết số 01/2025/NQ-HĐTP ngày 27 tháng 6 năm 2025 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội hướng dẫn áp dụng một số quy định về tiếp nhận nhiệm vụ, thực hiện thẩm quyền của các tòa án nhân dân, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 1 - Khánh Hòa; quan hệ pháp luật tranh chấp của vụ án được xác định là “Ly hôn, tranh chấp về con chung khi ly hôn”.

Theo kết quả xác minh của Công an phường V, thành phố N (nay là phường B), tỉnh Khánh Hòa thì bị đơn ông Lê Minh H1 có đăng ký hộ khẩu thường trú tại địa chỉ: A Đường B, khóm P, phường V, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa (nay là phường B, tỉnh Khánh Hòa) nhưng thực tế không sinh sống và cư trú tại địa phương, không biết địa chỉ nơi chuyển đến. Do đó, theo yêu cầu của nguyên đơn bà Trương Thị Việt H, Tòa án đã tiến hành thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng theo quy định tại Điều 180 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Tại phiên tòa, nguyên đơn bà Trương Thị Việt H vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt. Bị đơn ông Lê Minh H1 vắng mặt lần thứ hai không có lý do. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ các điều 227, 228 và 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự, tiến hành xét xử vắng mặt đối với bà Trương Thị Việt H và ông Lê Minh H1.

Về nội dung vụ án:

Về quan hệ hôn nhân: Bà Trương Thị Việt H và ông Lê Minh H1 tự nguyện kết hôn, được Ủy ban nhân dân xã S, huyện C, tỉnh Khánh Hòa (nay là xã S, tỉnh Khánh Hòa) cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 31/2014, quyển số I, ngày 18/4/2014 nên đây là quan hệ hôn nhân hợp pháp theo quy định của pháp luật.

Theo lời khai của bà H1, quá trình chung sống, bà và ông H1 thường xuyên mâu thuẫn. Cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc, không thể tiếp tục chung sống. Hiện tại, bà và ông H1 đã sống ly thân. Quá trình giải quyết vụ án, ông H1 vắng mặt không có lý do, điều này thể hiện ông H1 không có thiện chí đoàn tụ gia đình với bà H1; bà H1 đề nghị Tòa án không tiếp tục tiến hành hòa giải và kiên quyết ly hôn. Hội đồng xét xử xét thấy mâu thuẫn giữa bà H1 và ông H1 đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên yêu cầu của bà H1 về việc giải quyết ly hôn với ông H1 là có cơ sở, phù hợp với quy định tại Điều 51 và Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình nên cần được chấp nhận.

Về con chung: Theo giấy khai sinh và lời khai của bà H1 thể hiện bà H1 và ông H1 có 02 (hai) con chung là Lê Tuệ L1, sinh ngày 16/12/2013 và Lê Tuệ L, sinh ngày 25/3/2020. Bà H1 đề nghị Tòa án giao 02 (hai) con chung cho bà trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục và không yêu cầu ông H1 cấp dưỡng nuôi con chung.

Hội đồng xét xử nhận thấy hiện bà H1 là người trực tiếp nuôi dưỡng các cháu Lê Tuệ L1 và Lê Tuệ L. Tại bản tự khai ngày 01/8/2025, cháu Phan Lê Tuệ L1 trình bày nguyện vọng được ở với bà H1. Do đó, để đảm bảo quyền lợi mọi mặt cho con chung phát triển toàn diện và được sống ổn định nên giao cháu Lê Tuệ L1 và Lê Tuệ L cho bà H1 tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp.

Về cấp dưỡng: Bà H1 không yêu cầu ông Q cấp dưỡng nuôi con chung nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về tài sản chung và nợ chung: Bà H1 không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về chi phí tố tụng và án phí: Bà Trương Thị Việt H phải chịu chi phí tố tụng và án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 238, Điều 266, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ vào các điều 51, 56, 57, 58, 81, 82, 83 và 84 của Luật Hôn nhân và gia đình;

Nghị quyết số 01/2025/NQ-HĐTP ngày 27 tháng 6 năm 2025 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội hướng dẫn áp dụng một số quy định về tiếp nhận nhiệm vụ, thực hiện thẩm quyền của các tòa án nhân dân;

Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Tuyên xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, bà Trương Thị Việt H được ly hôn ông Lê Minh H1.

2. Về con chung: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, giao con chung là các cháu Lê Tuệ L1, sinh ngày 16/12/2013 và Lê Tuệ L, sinh ngày 25/3/2020 cho bà Trương Thị Việt H trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cho đến khi đủ tuổi trưởng thành theo quy định của pháp luật.

Ông Lê Minh H1 có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở, đồng thời, có nghĩa vụ tôn trọng quyền của con được sống chung với người trực tiếp nuôi dưỡng.

3. Về cấp dưỡng: Bà Trương Thị Việt H không yêu cầu ông Lê Minh H1 cấp dưỡng nuôi con chung nên không xem xét.

Vì lợi ích của con, khi cần thiết, bà H1 và ông H1 đều có quyền yêu cầu Tòa án có thẩm quyền giải quyết việc thay đổi người trực tiếp nuôi con cũng như về cấp dưỡng nuôi con chung.

4. Về tài sản chung, nợ chung: Bà Trương Thị Việt H không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét.

5. Về chi phí tố tụng: Bà Trương Thị Việt H phải chịu 3.600.000 đồng (Ba triệu sáu trăm nghìn đồng) chi phí thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng. Bà H đã nộp đủ chi phí tố tụng.

6. Về án phí: Bà Trương Thị Việt H phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm, nhưng được trừ vào 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0008086 ngày 24/10/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cam Lâm, tỉnh Khánh Hòa (nay là Thi hành án dân sự tỉnh Khánh Hòa). Bà H đã nộp đủ tiền án phí.

Quy định: Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

7. Về quyền kháng cáo: Bà Trương Thị Việt H và ông Lê Minh H1 vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Khánh Hòa xét xử phúc thẩm.

Cỡ chữ