vanban.org

Bản án 85/2024/HSST — Hình sự

TAND huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An Tuyên án 12/12/2024 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo: Trần Vũ A phạm tội “ Trộm cắp tài sản”

Xử phạt: Trần Vũ A 15 (Mười lăm) tháng cải tạo không giam giữ. Bị cáo được trừ thời gian bị tạm giữ từ ngày 16/9/2024 đến ngày 22/9/2024 là 06 (Sáu) ngày, bằng 18 (Mười tám) ngày cải tạo không giam giữ. Miễn khấu trừ thu nhập cho bị cáo Trần Vũ An. Giao bị cáo Trần Vũ A cho Uỷ ban nhân dân Phường Lê… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Vụ án trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo: Trần Vũ A phạm tội “ Trộm cắp tài sản”
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN THANH CHƯƠNG
TỈNH NGHỆ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 85/2024/HSST
Ngày 12/12/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH CHƯƠNG, TỈNH NGHỆ AN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Văn Dũng

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Phương Phú.

Ông Lê Đình Thọ

- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Văn Thỏa là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa: Bà Trịnh Thị Ngọc Soa - Kiểm sát viên.

Ngày 12 tháng 12 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ an xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 79/2024/TLST-HS ngày 12 tháng 11 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 107/2024/QĐXXST- HS ngày 28 tháng 11 năm 2024 đối với bị cáo:

Họ và tên: Trần Vũ A, sinh năm 1980 tại Thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An; Nơi cư trú: Khối X, Phường L, Thành phố Vinh,, tỉnh Nghệ An; Nghề nghiệp: Lái xe; Trình độ văn hoá: 12/12;dân tộc:Kinh; giới tính:Nam; tôn giáo:không; quốc tịch:Việt Nam; con ông Trần Vũ B, sinh năm 1954 và bà Lê Thị M, sinh năm 1945; Vợ Đinh Thị H, sinh năm 1982; Con có 04 người, con lớn nhất sinh năm 2004, con nhỏ nhất sinh năm 2014; Anh, chị em ruột có 02 người, bị cáo là con thứ 02; Tiền án; tiền sự: Không. Nhân thân: Ngày 01/4/2005 bị Công an Phường Lê Lợi, Thành phố Vinh,, tỉnh Nghệ An xử phạt hành chính về hành vi “ Đánh bạc” đã chấp hành xong ngày 12/5/2015. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 16/9/2024 đến 22/9/2024. Hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “ Cấm đi khỏi nơi cư trú” Có mặt.

Bị hại: Anh Nguyễn Quang S, sinh năm 1987; Nơi cư trú: Xóm X, xã T, huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 03 giờ 15 phút ngày 16/9/2024,Trần Vũ A điều khiển xe ô tô nhãn hiệu MG, màu đen, mang biển kiểm soát 38A-627.36 (xe ô tô của chị Nguyễn Thị Hoài P, sinh năm 2004, trú tại xóm X, xã A, huyện Đức Thọ, tỉnh Hà Tĩnh cho An mượn để chạy dịch vụ) chở khách đi từ thành phố Vinh đến xã Hạnh Lâm, huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An, rồi quay về. Đến khoảng 05 giờ 30 phút cùng ngày, khi đi về đến xóm 6, xã Thanh Hương, huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An thì A dừng xe bên đường để đi vệ sinh. Tại đây, A thấy 01 con chó, màu đen (của anh Nguyễn Quang S, sinh năm 1987, trú tại xóm X, xã T, huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An) đang chạy lại phía xe ô tô của A. Thấy vậy A đã nảy sinh ý định bắt trộm con chó này về nuôi nên đi lại gần con chó, nhìn xung quanh không thấy ai nên A đã mở cửa xe bên trái phía sau (phía bên ghế lái) đẩy con chó lên xe và đóng cửa lại, rồi tiếp tục điều khiển xe ô tô đi về. Khi A đi đến quán tạp hóa Giang Thế, thuộc xóm 6, xã Thanh Hương, huyện Thanh Chương (Cách vị trí A bắt trộm cho khoảng 2km), thì bị tổ công tác 373 Công an huyện Thanh Chương phát hiện bắt quả tang.

Ngày 18/9/2024, Cơ quan Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Thanh Chương đã ra quyết định trưng cầu định giá tài sản đối với con chó màu đen mà Trần Vũ An đã chiếm đoạt của gia đình anh Nguyễn Quang S. Tại Kết luận định giá số 45/KL ngày 20/9/2024 của Hội đồng định giá trong tố tụng huyện Thanh Chương kết luận: “01 con chó có lông màu đen, giống cái, nặng 26 kg, cao 50 cm, dài 80 cm có trị giá 5.000.000 đồng (Năm triệu đồng)”

Trong quá trình điều tra Trần Vũ A đã thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình, phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng.

Về vật chứng: Trong quá trình điều tra đã thu giữ: 01(một) con chó màu đen giống cái, nặng 26 kg, cao 50 cm dài 80 cm; chiếc ô tô nhãn hiệu MG, màu đen, mang biển kiểm soát 38A-627.36 đã được trả lại cho chủ sở hữu hợp pháp. 1 chiếc điện thoại OPPO A15s màu xanh, 01 chiếc điện thoại Iphone 12 ProMax màu xanh chứng minh không liên quan đến hành vi phạm tội nên đã trả lại cho bị can. Đối với 01 chiếc thẻ nhớ thu giữ tại camera hành trình trên xe Trần Vũ A đang được bảo quan tại kho vật chứng Công an huyện Thanh Chương.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại anh Nguyễn Quang S đã nhận lại tài sản, hiện anh S không yêu cầu bồi thường gì thêm.

Bản cáo trạng số 81/CT -VKS ngày 11 tháng 11 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An truy tố Trần Vũ A về tội “ Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa Đại diên Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An giữ nguyên quyết định truy tố. Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Trần Vũ A phạm tội “Trộm cắp tài sản”

Áp dụng: Khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 65 của Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Trần Vũ A mức án từ 09 đến 12 tháng tù, cho hưởng án treo. Thời gian thử thách từ 18 đến 24 tháng. Miễn hình phạt tiền là hình phạt bổ sung cho bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã được trả lại tài sản, nay không có yêu cầu gì nên không xem xét.

Đối với 01 chiếc thẻ nhớ thu giữ tại camera hành trình trên xe Trần Vũ A không liên quan đến việc phạm tội, nhưng bị cáo không có yêu cầu nhận lại nên tịch thu tiêu huỷ.

Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; Điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Trần Vũ A phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Bị cáo Trần Vũ A thừa nhận hành vi phạm tội của mình như bản cáo trạng mà Viện kiểm sát đã truy tố, không tranh luận gì với đại diện Viện kiểm sát, xin hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tố tụng:Trong quá trình giải quyết vụ án từ khi khởi tố, điều tra, truy tố thì Điều tra viên, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo; bị hại không có khiếu nại về các hành vi và quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra và Viện kiểm sát, do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.

Về hành vi phạm tội của bị cáo:Tại phiên tòa bị cáo Trần Vũ A khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như bản cáo trạng mà Viện kiểm sát đã truy tố. Hội đồng xét xử xét thấy lời khai nhận tội của bị cáo là phù hợp với vật chứng thu được; lời khai bị hại; phù hợp với bản kết luận định giá tài sản và các chứng cứ tài liệu khác có tại hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa.

Có đủ cơ sở kết luận: Vào khoảng 05 giờ 30 phút ngày 16/9/2024 tại khu vực xóm 6, xã Thanh Hương, huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An, lợi dụng sơ hở của chủ sở hữu Trần Vũ A đã có hành vi lén lút chiếm đoạt 01 con Chó cái nặng 26 kg có giá 5.000.000 đồng (Năm triệu đồng) của anh Nguyễn Quang S, sinh năm 1987, trú tại xóm X, xã T, huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An.

Hành vi nêu trên của bị cáo đã phạm vào tội “ Trộm cắp tài sản” được quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự như bản cáo trạng mà Viện kiểm sát đã truy tố.

Xét nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo là người có nhân thân xấu, ngày 01/4/2005 bị Công an Phường Lê Lợi, Thành phố Vinh,, tỉnh Nghệ An xử phạt hành chính về hành vi “ Đánh bạc” đã chấp hành xong ngày 12/5/2015. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự; bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng được quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Xét thấy bị cáo có nơi cư trú rõ ràng và có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự do đó chưa cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội mà chỉ cần áp dụng Điều 36 Bộ luật hình sự, áp dụng hình phạt cải tạo không giam giữ đối với bị cáo cũng đủ nghiêm. Bị cáo có thu nhập không ổn định, do đó miễn hình phạt bổ sung là hình phạt tiền và miễn khấu trừ thu nhập đối với bị cáo.

Tại phiên toà đại diện Viện kiểm sát đề nghị xử phạt bị cáo mức án từ 09 đến 12 tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 18 đến 24 tháng là quá nghiêm khắc so với tính chất, mức độ và hành vi phạm tội của bị cáo, do đó Hội đồng xét xử không chấp nhận.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã được trả lại tài sản, nay không có yêu cầu gì nên không xem xét.

Đối với 01 chiếc thẻ nhớ thu giữ tại camera hành trình trên xe Trần Vũ A không liên quan đến việc phạm tội, nhưng bị cáo không có yêu cầu được nhận lại do đó tịch thu tiêu huỷ.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Đối với chị Nguyễn Thị Hoài Phương là người đã cho A mượn xe ô tô biển kiểm soát 38A-627.36 để làm nghề taxi, chị P không biết Trần Vũ A dùng xe để thực hiện hành vi trộm cắp tài sản nên Cơ quan điều tra đã trả lại chiếc xe cho chị P không tiến hành xử lý hình sự đối với chị Phương là có căn cứ và đúng pháp luật.

V× c¸c lÏ trªn:

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 36 của Bộ luật Hình sự; khoản 2 Điều 106, khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; Điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án xử:

1.Tuyên bố bị cáo: Trần Vũ A phạm tội “ Trộm cắp tài sản”

-Xử phạt: Trần Vũ A 15 (Mười lăm) tháng cải tạo không giam giữ. Bị cáo được trừ thời gian bị tạm giữ từ ngày 16/9/2024 đến ngày 22/9/2024 là 06 (Sáu) ngày, bằng 18 (Mười tám) ngày cải tạo không giam giữ. Miễn khấu trừ thu nhập cho bị cáo Trần Vũ An.

Giao bị cáo Trần Vũ A cho Uỷ ban nhân dân Phường Lê Lợi, Thành Phố Vinh, tỉnh Nghệ An giám sát giáo dục trong thời gian cải tạo không giam giữ. Gia đình người bị kết án có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục người đó.

Thời hạn cải tạo không giam giữ được tính từ ngày Cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện nhận được quyết định thi hành án và bản sao bản án.

-Tịch thu tiêu huỷ 01 ( Một) thẻ nhớ nhãn hiệu Pioneer dung lượng 32GB.

(Chi tiết theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 13/11/2024 giữa cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ an và Chi cục thi hành án dân sự huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ an)

3.Về án phí: Buộc bị cáo Trần Vũ A phải chịu 200.000 (Hai trăm ngàn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ