- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Bà K’ N và ông Ha T"
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LÂM HÀ TỈNH LÂM ĐỒNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 85/2024/HNGĐ-ST Ngày: 29/11/2024 V/v: “Ly hôn”. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LÂM HÀ, TỈNH LÂM ĐỒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Phước Minh Phong
Các hội thẩm nhân dân:Bà Trần Thị Hồng Hạnh
Ông Nguyễn Ngọc Sơn
- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Văn Cương – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng tham gia phiên tòa: Ông Mai Trường Trinh - Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân gia đình thụ lý số 341/2024/TLST-HNGĐ ngày 10/10/2024 về việc: “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 93/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 12 tháng 11 năm 2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà K’ N, sinh năm: 1987; địa chỉ: Tổ dân phố P, thị trấn Đ, huyện L, tỉnh Lâm Đồng. Có đơn xin xét xử vắng mặt.
- Bị đơn: Ông Ha T, sinh năm: 1988; địa chỉ: Thôn Đ, xã L, huyện L, tỉnh Lâm Đồng. Có đơn xin xét xử vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và lời trình bày của nguyên đơn bà K’ Ngân:
Về quan hệ hôn nhân: Bà và ông T xây dựng gia đình với nhau trên cơ sở tự nguyện, có tổ chức lễ cưới theo phong tục truyền thống và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn Đ, huyện L, tỉnh Lâm Đồng ngày 09/7/2009.
Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống với nhau hòa thuận, hạnh phúc được 02 năm thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do vợ chồng thường xuyên bất đồng quan điểm sống, lối sống, không có tiếng nói chung, thường xuyên cãi vã, ông T không chăm lo phát triển kinh tế gia đình. Hai bên gia đình đã nhiều lần khuyên bảo để giải quyết mâu thuẫn, hàn gắn lại tình cảm nhưng đều không được, nên vợ chồng đã sống ly thân từ năm 2021 đến nay. Do mâu thuẫn vợ chồng đã quá trầm trọng, không thể cứu vãn được nên bà yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông Ha T.
Về con chung: Bà xác định vợ chồng có 02 con chung là Lơ Mu Ha T1, sinh ngày 11/4/2011 và Lơ Mu Ha P, sinh ngày 31/8/2018. Khi ly hôn, bà yêu cầu giao cả cháu Lơ Mu Ha T1 và Lơ Mu Ha P cho bà trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Không yêu cầu ông Ha T cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung và nợ chung: Bà xác định vợ chồng không có tài sản chung và nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Theo lời trình bày của bị đơn ông Ha T:
Ông và bà K’ Ngân xây dựng gia đình với nhau năm 2009, trên cở sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại tại Ủy ban nhân dân thị trấn Đ, huyện L, tỉnh Lâm Đồng ngày 09/7/2009. Quá trình chung sống vợ chồng hòa thuận, hạnh phúc được 02 năm thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, lối sống, không có tiếng nói chung, thường xuyên cãi vã, ông không chăm lo phát triển kinh tế gia đình. Hai bên gia đình đã nhiều lần khuyên bảo để giải quyết mâu thuẫn, hàn gắn lại tình cảm nhưng đều không được, nên vợ chồng đã sống ly thân từ năm 2021 đến nay. Do mâu thuẫn vợ chồng đã quá trầm trọng, không thể cứu vãn được nên ông đồng ý ly hôn với bà K’ Ngân.
Về con chung: Ông xác định vợ chồng có 02 con chung là Lơ Mu Ha T1, sinh ngày 11/4/2011 và Lơ Mu Ha P, sinh ngày 31/8/2018. Khi ly hôn, ông yêu cầu giao cả cháu Lơ Mu Ha T1 và Lơ Mu Ha P cho bà K’ Ngân trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục.
Về tài sản chung và nợ chung: Ông xác định vợ chồng không có tài sản chung và nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại phiên tòa,
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng phát biểu về việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án của Hội đồng xét xử và những người tham gia tố tụng đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử: Chấp nhận đơn khởi kiện của bà K’ Ngân về việc xin ly hôn với ông Ha T. Giao con chung là cháu Lơ Mu Ha T1, sinh ngày 11/4/2011 và Lơ Mu Ha P, sinh ngày 31/8/2018 cho bà K’ Ngân trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Ông Ha T không phải cấp dưỡng nuôi con.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về tố tụng: Nguyên đơn bà K’ Ngân, bị đơn ông Ha T vắng mặt tại phiên tòa và có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 227 và khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự để xét xử vắng mặt các đương sự trên theo thủ tục chung.
Về nội dung:
Về quan hệ hôn nhân: Bà K’ N và ông Ha T xây dựng gia đình với nhau năm 2009, trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn Đ, huyện L, tỉnh Lâm Đồng ngày 09/7/2009. Việc đăng ký kết hôn không vi phạm các điều kiện cấm kết hôn theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình, nên quan hệ hôn nhân của bà K’ N và ông Ha Thế L hợp pháp. Tuy nhiên, cuộc sống vợ chồng không hạnh phúc nên bà K’ Ngân khởi kiện ly hôn.
Xét thấy, vợ chồng bà K’ Ngân, ông Ha T phát sinh mâu thuẫn là do bất đồng quan điểm, không có tiếng nói chung trong cuộc sống, vợ chồng thiếu sự quan tâm, chăm sóc lẫn nhau. Sau khi phát sinh mâu thuẫn, vợ chồng cũng đã nhiều lần tìm cách để cải thiện tình cảm nhưng không có kết quả. Vợ chồng đã sống ly thân từ năm 2021 đến nay và không còn sự quan tâm, chăm sóc lẫn nhau. Trong quá trình giải quyết vụ án, ông Ha T cũng xác định mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, kéo dài, không thể hàn gắn được nên đồng ý ly hôn theo yêu cầu của bà K’ Ngân.
Do quan hệ hôn nhân giữa bà K’ Ngân với ông Ha T đã lâm vào tình trạng mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, nếu kéo dài tình trạng hôn nhân như hiện nay cũng không mang lại hạnh phúc cho các đương sự. Vì vậy, căn cứ khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, cần chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà N, giải quyết cho bà K’ N và ông Ha T được ly hôn là phù hợp.
Về con chung: Bà K’ N và ông Ha T có hai con chung là Lơ Mu Ha T1, sinh ngày 11/4/2011 và Lơ Mu Ha P, sinh ngày 31/8/2018.
Trong quá trình giải quyết vụ án, bà K’ N yêu cầu được nuôi cả hai con chung, không yêu cầu ông Ha T cấp dưỡng nuôi con; ông Ha T cũng đồng ý giao cả 02 con chung cho bà K’ Ngân trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục.
Xét thấy, kể từ khi bà K’ Ngân, ông Ha T sống ly thân thì bà K’ Ngân là người trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng các con chung; cháu Lơ Mu Ha T1 cũng có nguyện vọng được ở với mẹ, trong khi đó ông Ha T cũng đồng ý giao cả 02 con chung cho bà K’ Ngân trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Do đó, nhằm bảo đảm sự ổn định, hạn chế sự xáo trộn môi trường sống, giáo dục và nhằm đảm bảo quyền lợi về mọi mặt và sự phát triển tâm sinh lý bình thường của các cháu, nên cần giao cho bà K’ Ngân trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục các con chung là phù hợp với Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
Việc cấp dưỡng nuôi con do các đương sự không yêu cầu nên không đặt ra để xem xét.
Về tài sản chung và nợ chung: Bà K’ N và ông Ha T xác định không có tài sản chung, không có nợ chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đặt ra để xem xét.
Về án phí: Buộc bà K’ Ngân phải chịu 300.000 đồng án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 266, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
- Căn cứ Điều 53, khoản 1 Điều 56, Điều 57, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
- Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Xử:
1. Chấp nhận đơn ly hôn của bà K’ Ngân, xử cho bà K’ N và ông Ha T được ly hôn.
2. Về con chung: Giao con chung Lơ Mu Ha T1, sinh ngày 11/4/2011 và Lơ Mu Ha P, sinh ngày 31/8/2018 cho bà K’ Ngân trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Ông Ha T không phải cấp dưỡng nuôi con.
Quyền đi lại thăm nom con, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con; quyền thay đổi người trực tiếp nuôi con, thay đổi mức cấp dưỡng được thực hiện theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình.
3. Về án phí: Buộc bà K’ Ngân phải chịu 300.000 đồng án phí Hôn nhân gia đình, nhưng được trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm nộp theo biên lai thu số 0005097 ngày 08/10/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Lâm Hà. Bà K’ N đã nộp đủ án phí.
4. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
5. Quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được Bản án hoặc tống đạt hợp lệ./.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Lâm Đồng (02); - VKSND H. Lâm Hà; - Chi cục THADS H. Lâm Hà; - Các đương sự; - UBND TT. Đinh Văn; - Lưu AV – HS | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Phước Minh Phong |