vanban.org

Bản án 85/2024/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện ly hôn của nguyên đơn chị Phan Kim H đối với bị đơn anh Lê Tùng C

Về quan hệ hôn nhân: Nguyên đơn chị Phan Kim H được ly hôn với bị đơn anh Lê Tùng C. Về quan hệ con chung: Giao cháu Lê Hoàng Đ, sinh ngày 11/10/2014 cho chị Phan Kim H tiếp tục chăm sóc nuôi dưỡng. Chị Phan Kim H không yêu cầu anh Lê Tùng C cấp dưỡng nuôi con. Anh Lê Tùng C không phải cấp dưỡng nuô… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Chị Phan Thị Kim H khởi kiện xin ly hôn với anh Lê Tùng C"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện ly hôn của nguyên đơn chị Phan Kim H đối với bị đơn anh Lê Tùng C
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CHÂU THÀNH
TỈNH KIÊN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 85/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 09/9/2024
V/v “Xin ly hôn và nuôi con chung”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH KIÊN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Mai Tấn Đẩu

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Duy KH và ông Trần Minh Nhựt

- Thư ký phiên Tòa: Ông Nguyễn Chí Thăng - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Kiên Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Kiên Giang tham gia phiên tòa: Ông Bành Bảo Ngọc – Kiểm Sát viên.

Ngày 09 tháng 9 năm 2024, Tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Kiên Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 108/2024/TLST-HNGĐ, ngày 25 tháng 3 năm 2024, về việc “Xin ly hôn và nuôi con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 87/2024/QĐXXST- HNGĐ, ngày 05 tháng 8 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 58/2024/QĐST-HNGĐ ngày 22 tháng 8 năm 2024, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Phan Kim H, sinh năm 1978

Nơi cư trú: Số … NTT, phường AH, thành phố RG, tỉnh KG (Có mặt)

2. Bị đơn: Anh Lê Tùng C, sinh năm 1976

Nơi cư trú: ấp PH, xã MT B, huyện CT, tỉnh KG

(Anh C được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt tại phiên tòa).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Nguyên đơn chị Phan Kim H trình bày:

Vào năm 2014, chị và anh Lê Tùng C quen nhau và có làm lễ cưới sau đó đăng ký kết hôn tại UBND Phường AH, TP RG, tỉnh KG. Thời gian đầu anh chị chung sống rất hòa thuận, hạnh phúc và có 01 người con chung Lê Hoàng Đ, sinh ngày 11/10/2014 nhưng đến khoảng thời gian gần đây thì giữa anh chị xảy ra nhiều mâu thuẫn do bất đồng quan điểm và anh chị đã nhiều lần cố gắng hàn gắn nhưng vẫn mâu thuẫn nhau. Anh và chị đã sống ly thân nhau đã hơn 05 năm nay. Nay chị cảm thấy tình cảm vợ chồng không còn nên chị khởi kiện xin ly hôn.

Tại phiên tòa chị Phan Kim H có yêu cầu như sau:

- Về hôn nhân: Xin được ly hôn với anh Lê Tùng C

- Về việc nuôi con chung: Chị yêu cầu nuôi dưỡng 01 người con chung tên Lê Hoàng Đ, sinh ngày 11/10/2014 không yêu cầu anh C phải cấp dưỡng nuôi con chung.

- Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Bị đơn anh Lê Tùng C: Trong quá trình giải quyết vụ án anh Lê Tùng C đã được Tòa án tống đạt hợp lệ thông báo về việc thụ lý vụ án. Sau đó, Tòa án tiếp tục tống đạt cũng như niêm yết nhiều lần thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải theo quy định pháp luật nhưng anh Lê Tùng C vẫn vắng mặt không có lý do nên không có ý kiến trình bày. Do đó, căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ Tòa án tiến hành giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành phát biểu quan điểm về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, sự tuân theo pháp luật của những người tham gia tố tụng và ý kiến về việc giải quyết vụ án:

Về tố tụng: Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký thực hiện đúng quy định tại Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Thời hạn chuẩn bị xét xử và quyết định đưa vụ án ra xét xử là đúng quy định tại Điều 203 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Về nội dung vụ án:

- Về hôn nhân: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của chị Phan Kim H, cho chị Phan Kim H được ly hôn với anh Lê Tùng C

- Về con chung: Giao 01 người con chung tên 01 người con chung tên Lê Hoàng Đ, sinh ngày 11/10/2014 cho chị Phan Kim H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng

- Về tài sản chung và nợ chung: Chị Phan Kim H xác định là không có nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

- Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Phan Kim H thực hiện quyền khởi kiện theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự là thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Kiên Giang.

- Về quan hệ pháp luật tranh chấp, nguyên đơn chị Phan Kim H yêu cầu ly hôn với bị đơn anh Lê Tùng C và yêu cầu được nuôi dưỡng 01 người con chung tên Lê Hoàng Đ, sinh ngày 11/10/2014. Nên quan hệ pháp luật tranh chấp được xác định trong vụ án là “Xin ly hôn và nuôi con chung”.

- Về sự có mặt của các đương sự: Bị đơn anh Lê Tùng C đã được Tòa án triệu tập, tống đạt xét xử hợp lệ, đúng theo quy định pháp luật nhưng anh Lê Tùng C vẫn vắng mặt không có lý do. Tại phiên tòa, nguyên đơn chị Phan Kim H thống nhất yêu cầu xét xử vắng mặt anh Lê Tùng C. Căn cứ vào Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, HĐXX quyết định xét xử vắng mặt bị đơn anh Lê Tùng C theo quy định pháp luật.

- Về nội dung: Chị Phan Kim H và anh Lê Tùng C chung sống với nhau trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn và được UBND Phường An Hòa, TP Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang cấp giấy chứng nhận kết hôn nên hôn nhân của ông bà là hôn nhân hợp pháp được pháp luật công nhận.

Xét yêu cầu khởi kiện của chị Phan Kim H yêu cầu ly hôn với anh Lê Tùng C, Hội đồng xét xử xét thấy: Trong quá trình giải quyết vụ án anh Lê Tùng C xác nhận, sau khi kết hôn thì giữa chị và anh Lê Tùng C chung sống rất hạnh phúc nhưng đến năm 2020 thì giữa anh chị hay xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân là do bất đồng quan điểm, không có tiếng nói chung trong cuộc sống nên anh chị đã sống ly thân với nhau từ năm 2020 cho đến nay. Đối với anh Lê Tùng C mặc dù Tòa án đã nhiều lần tống đạt thông báo hòa giải để mở phiên hòa giải nhằm mục đích động viên chị H và anh C có cơ hội hàn gắn đoàn tụ nhưng anh Lê Tùng C vẫn vắng mặt nhiều lần không lý do nên Tòa án không tiến hành hòa giải được. Đồng thời, Tòa án đã triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai để anh Lê Tùng C có mặt tham gia phiên tòa nhưng anh Lê Tùng C vẫn vắng mặt. Tại phiên toà, chị Phan Kim H vẫn cương quyết xin được ly hôn với anh Lê Tùng C và trên thực tế anh chị đã ly thân với nhau từ năm 2020 cho đến nay. HĐXX xét thấy, mâu thuẫn về hôn nhân giữa chị Phan Kim H và anh Lê Tùng C đã đến mức trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, cuộc sống vợ chồng không thể kéo dài. Do đó, xét thấy việc chị Phan Kim H xin được ly hôn đối với anh Lê Tùng C là có căn cứ phù hợp với quy định tại Điều 56 Luật hôn nhân gia đình năm 2014 nên HĐXX chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Phan Kim H đối với anh anh Lê Tùng C.

Về con chung: Chị Phan Kim H xác nhận trong quá trình chung sống vợ chồng chị có 01 người con chung tên Lê Hoàng Đ, sinh ngày 11/10/2014, hiện đang sống cùng chị. Nay chị yêu cầu được trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng và không yêu cầu anh Lê Tùng C cấp dưỡng nuôi con. HĐXX nhận thấy kể từ sau khi anh chị sống ly thân cho đến nay chị Phan Kim H là người trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cháu Lê Hoàng Đ và chị vẫn chăm sóc tốt cho cháu nên HĐXX nghỉ cần giao cháu Lê Hoàng Đ, sinh ngày 11/10/2014 cho chị Phan Kim H tiếp tục chăm sóc nuôi dưỡng để không làm thay đổi môi trường sinh sống của cháu và phù hợp với nguyện vọng của cháu là phù hợp với quy định của pháp luật.

Anh Lê Tùng C có quyền, nghĩa vụ thăm nom chăm sóc con mà không ai được cản trở.

- Về tài sản chung và nợ chung: Trong quá trình giải quyết vụ án, Toà án đã triệu tập anh Lê Tùng C đúng theo quy định pháp luật nhưng anh Lê Tùng C vẫn vắng mặt không lý do nên Toà án không tiến hành hoà giải, đối chất để xác định về tài sản chung cũng như nợ chung giữa ông bà được. Mặt khác, tại phiên toà chị Phan Kim H khẳng định anh chị không tạo lập được tài sản gì chung và cũng không có nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Do đó, về phần tài sản chung và nợ chung HĐXX không xem xét nếu sau này anh chị hoặc cơ quan tổ chức, cá nhân nào khác có yêu cầu thì có quyền khởi kiện bằng vụ án khác theo quy định pháp luật.

- Xét quan điểm và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là có cơ sở và phù hợp với quy định của pháp luật như đã phân tích nêu trên nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

- Về án phí: Căn cứ Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội. Buộc chị Phan Kim H phải chịu 300.000 đồng tiền án phí nhưng chị được khấu trừ số tiền 300.000 đồng đã tạm ứng án phí sơ thẩm theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số: 0007576 ngày 13/3/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Thành, tỉnh Kiên Giang.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39, Điều 147, khoản 2 Điều 227, Điều 266, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

- Căn cứ vào Điều 53; Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

- Căn cứ vào điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Tuyên xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện ly hôn của nguyên đơn chị Phan Kim H đối với bị đơn anh Lê Tùng C

1. Về quan hệ hôn nhân: Nguyên đơn chị Phan Kim H được ly hôn với bị đơn anh Lê Tùng C.

2. Về quan hệ con chung: Giao cháu Lê Hoàng Đ, sinh ngày 11/10/2014 cho chị Phan Kim H tiếp tục chăm sóc nuôi dưỡng. Chị Phan Kim H không yêu cầu anh Lê Tùng C cấp dưỡng nuôi con. Anh Lê Tùng C không phải cấp dưỡng nuôi con.

Anh Lê Tùng C có quyền, nghĩa vụ thăm nom chăm sóc con mà không ai được cản trở.

3. Về tài sản chung: Chị Phan Kim H xác định là không có và không yêu cầu Tòa án giải quyết, do đó Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

4. Về nợ chung: Chị Phan Kim H xác định là không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết, do đó Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

5. Về án phí: Chị Phan Kim H phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm với số tiền là 300.000 đồng nhưng được khấu trừ vào 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số: 0007576 ngày 13/3/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Thành, tỉnh Kiên Giang.

6. Về quyền kháng cáo: Các đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.

Cỡ chữ