- Tranh chấp gì? án hành chính — "khiếu kiện quyết định khắc phụ hậu quả"
- Tòa quyết gì? Nghị định số 166/2013/NĐ-CP ngày 12/11/2013 của Chính phủ quy định về cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính; Nghị định 118/2021/NĐ-CP ngày 23/12/2021 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật xử lý vi phạm hành chính;
- Căn cứ chính? Nghị định số 118/2021/NĐ-CP Quy định chi tiết một số điều và…; Điều 116 Luật tố tụng hành chính; Điều 158 Luật tố tụng hành chính
| tßa ¸n nh©n d©n tØnh kiªn giang | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 85/2024/HC-ST Ngày: 22-5-2024 “V/v khiếu kiện quyết định buộc thực hiện biện pháp khắc phục hậu quả; quyết định cưỡng chế buộc thực hiện biện pháp khắc phục hậu quả” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KIÊN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - chủ tọa phiên tòa: Ông Võ Thanh Huyến
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Quyền
Ông Thái Ngọc Minh
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Hoàng Kháng - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Kiên Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Kiên Giang tham gia phiên tòa: Bà Trần Ngọc Huyên - Kiểm sát viên.
Ngày 22 tháng 5 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Kiên Giang xét xử sơ thẩm vụ án hành chính sơ thẩm thụ lý số: 233/2023/TLST-HC ngày 20 tháng 11 năm 2023 về việc “Khiếu kiện Quyết định buộc thực hiện biện pháp khắc phục hậu quả và Quyết định cưỡng chế buộc thực hiện biện pháp khắc phục hậu quả ”. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 71/2024/QĐXXST-HC ngày 22 tháng 4 năm 2024, giữa các đương sự:
Người khởi kiện: Ông Phạm Văn C, sinh năm 1970.
Địa chỉ: Số F, ấp F, xã V, huyện B, thành phố Hồ Chí Minh. (Vắng mặt)
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Bùi Ngọc H, sinh năm 1977.
Địa chỉ: Số F, Liên khu 5-11-12, phường B, quận T, thành phố Hồ Chí Minh. (Có đơn xin xét xử vắng mặt)
Người bị kiện: Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố P, tỉnh Kiên Giang
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Lê Quốc T, chức vụ: Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố P. (Có đơn đề nghị xét xử vắng mặt)
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người bị kiện: Ông Nguyễn Văn H1 - Chức vụ: Phó Trưởng phòng tư pháp thành phố P. (Có mặt)
Cùng địa chỉ: Số D, đường C, phường D, thành phố P, tỉnh Kiên Giang.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ủy ban nhân dân thành phố P, tỉnh Kiên Giang.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Huỳnh Quang H2, chức vụ: Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố P (Có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).
Địa chỉ: Số D, đường C, phường D, thành phố P, tỉnh Kiên Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và đơn khởi kiện sửa đổi, bổ sung người khởi kiện ông Phạm Văn C trình bày:
Vào năm 2019, ông có nhận chuyển nhượng một thửa đất diện tích 500m2 tại ấp Đ, xã D, thành phố P, tỉnh Kiên Giang của ông Bùi Văn H3 (do ông Đào Văn Q đứng đại diện ông H3 ký giấy tờ chuyển nhượng) bằng giấy tay. Sau khi nhận chuyển nhượng ông đã xây dựng nhà và đưa vào sử dụng năm 2019.
Ngày 07/11/2022 Công chức Địa chính - Xây dựng xã D lập Biên bản vi phạm hành chính, xác định ông có hành vi vi phạm hành chính số 102/BB-VPHC với nội dung “Chiếm đất nông nghiệp (đất trồng cây lâu năm) tại khu vực nông thôn với diện tích 512,1m2 do Nhà nước quản lý theo Quyết định 2600/QĐ-UBND ngày 14/12/2012 của UBND tỉnh K”.
Ngày 11/5/2023 Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố P ban hành Quyết định số 1785/QĐ-KPHQ buộc thực hiện biện pháp khắc phục hậu quả buộc ông C phải khôi phục lại tình trạng ban đầu của đất trước khi vi phạm; buộc trả lại diện tích 512,1m2 tại ấp Đ, xã D, thành phố P; buộc nộp lại số lợi bất hợp pháp có được do thực hiện hành vi vi phạm với số tiền 5.356.430đ.
Ngày 21/6/2023 Chủ tịch UBND thành phố P tiếp tục ban hành Quyết định số 3317/QĐ-SĐBS về việc sửa đổi, bổ sung Quyết định số 1785/QĐ-KPHQ ngày 11 tháng 5 năm 2023.
Ngày 16/10/2023 Chủ tịch UBND thành phố P ban hành Quyết định số 5245/QĐ-CCXP cưỡng chế buộc thực hiện biện pháp khắc phục hậu quả.
Ông C nhận thấy nội dung của các quyết định nêu trên làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của ông nên khởi kiện yêu cầu Toà án căn cứ điểm b, c khoản 2 Điều 193 Luật tố tụng hành chính tuyên hủy các Quyết định số 1785/QĐ-KPHQ ngày 11/5/2023 của Chủ tịch UBND thành phố P về việc buộc thực hiện biện pháp khắc phục hậu quả; Quyết định số 3317/QĐ-SĐBS ngày 21/6/2023 của Chủ tịch UBND thành phố P về việc sửa đổi, bổ sung Quyết định số 1785/QĐ-KPHQ ngày 11 tháng 5 năm 2023; Quyết định số 5245/QĐ-CCXP ngày 21/6/2023 của Chủ tịch UBND thành phố P về việc cưỡng chế buộc thực hiện biện pháp khắc phục hậu quả.
Tại Văn bản số 863/UBND-NCPC ngày 08 tháng 5 năm 2024, người bị kiện Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố P trình bày:
Nguồn gốc đất diện tích 512,1m2 tại ấp Đ, xã D, thành phố P, tỉnh Kiên Giang do ông Phạm Văn C chiếm thuộc nhóm đất nông nghiệp loại đất trồng cây lâu năm (theo Công văn số 557/UBND-NCPC ngày 30/6/2022, về việc xác định loại đất để xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai).
Ngày 27/9/2022, công chức Địa chính - Xây dựng UBND xã D lập Biên bản làm việc đối với ông Phạm Văn C. Ông Phạm Văn C trình bày nguồn gốc đất là do ông nhận chuyển nhượng từ ông Đào Văn Q năm 2019. (Tại thời điểm mua đất này cho đến nay là đất chưa được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, việc mua bán đất này không được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền xác nhận).
Ngày 07/11/2022, công chức Địa chính - Xây dựng UBND xã D đã phối hợp với các cơ quan có liên quan tiến hành đo đạc, kiểm tra thực tế thửa đất diện tích 512,1m2 do ông Phạm Văn C chiếm là đất nông nghiệp loại đất trồng cây lâu năm tại khu vực nông thôn.
Toàn bộ diện tích ông Phạm Văn C chiếm nằm trong Quyết định số 904/QĐ-UBND ngày 24/5/2007 của UBND tỉnh K về việc thu hồi đất và giao UBND huyện P (nay là thành phố P) để lập phương án bồi thường, giải phóng mặt bằng, thực hiện quy hoạch xây dựng khu Du lịch - Dân cư B và Nam Bãi T1 tại xã D, thị trấn A, huyện P tỉnh Kiên Giang.
Từ đó, công chức Địa chính - Xây dựng lập Biên bản vi phạm hành chính số 102/BB-VPHC ngày 07/11/2022 và Biên bản xác minh tình tiết của vụ việc vi phạm hành chính số 51/BB-XM ngày 07/4/2023 thể hiện ông Phạm Văn C thực hiện hành vi vi phạm hành chính. Chiếm đất nông nghiệp (đất trồng cây lâu năm) tại khu vực nông thôn với diện tích 512,1m2 đất do UBND thành phố P quản lý theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 14 Nghị định số 91/2019/NĐ-CP ngày 19/11/2019 của Chính phủ về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai là đúng theo quy định của pháp luật.
Biên bản vi phạm hành chính, Biên bản xác minh tình tiết của vụ việc vi phạm hành chính được lập đúng mẫu quy định; căn cứ lập biên bản, người có thẩm quyền lập biên bản thể hiện tính đầy đủ và rõ ràng; nội dung xác lập hành vi vi phạm hành chính đầy đủ, chính xác đúng quy định của pháp luật.
Theo đó việc ông Phạm Văn C tự ý sử dụng diện tích 512,1m2 đất thuộc quyền sử dụng hợp pháp của UBND thành phố P mà không được UBND thành phố P cho phép là hành vi chiếm đất, quy định tại điểm b khoản 2 Điều 3 Nghị định số 91/2019/NĐ-CP ngày 19/11/2019 của Chính phủ về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai.
Vì vậy, việc ban hành Quyết định số 1785/QĐ-KPHQ ngày 11/5/2023 buộc thực hiện biện pháp khắc phục hậu quả đối với ông Phạm Văn C là hoàn toàn có căn cứ và đúng theo quy định của pháp luật. Về thẩm quyền, trình tự, thủ tục và nội dung phù hợp quy định tại khoản 2 Điều 38, Điều 28, Điều 29, Điều 65, Điều 85 Luật xử lý vi phạm hành chính (sửa đổi, bổ sung năm 2020) và điểm a, d khoản 7 Điều 14 Nghị định số 91/2019/NĐ-CP ngày 19/11/2019 của Chính phủ về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai.
Qua theo dõi thi hành Quyết định số 1785/QĐ-KPHQ ngày 11/52023 buộc thực hiện biện pháp khắc phục hậu quả của Chủ tịch UBND thành phố P nhận thấy ông Phạm Văn C chưa thực hiện biện pháp khắc phục hậu quả, theo Quyết định số 1785/QĐ-KPHQ ngày 11/5/2023 và Quyết định số 3317/QD-SĐBS ngày 21/6/2023. Do đó, Chủ tịch UBND thành phố P ban hành Quyết định số 5245/QĐ-CCXP ngày 16/10/2023 cưỡng chế buộc thực hiện biện pháp khắc phục hậu quả là đúng quy định pháp luật.
Từ những nội dung trên, đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Kiên Giang bác toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Phạm Văn C.
Tại phiên tòa sơ thẩm:
- Ông Nguyễn Văn H1 người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người bị kiện thống nhất với ý kiến và đề nghị của Chủ tịch UBND thành phố P. Đề nghị Toà án bác toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Phạm Văn C.
- Kiểm sát viên phát biểu về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội thẩm nhân nhân, Thư ký Tòa án và việc tuân theo pháp luật của những người tham gia tố tụng:
Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án đã tuân thủ đúng quy định của Luật tố tụng hành chính tại phiên tòa sơ thẩm. Thẩm phán thụ lý vụ án đúng thẩm quyền, thu thập chứng cứ đủ điều kiện để giải quyết vụ kiện.
Đối với người khởi kiện, người bị kiện, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Từ khi thụ lý vụ án cũng như tại phiên tòa đã chấp hành đúng các quy định của Luật tố tụng hành chính.
Về nội dung: Đề nghị áp dụng điểm a khoản 2 Điều 193 của Luật tố tụng hành chính bác yêu cầu khởi kiện của ông Phạm Văn C về việc yêu cầu hủy Quyết định số 1785/QĐ-KPHQ ngày 11/5/2023 của chủ tịch UBND thành phố P về áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả; Quyết định số 3317/QĐ-SĐBS ngày 21/6/2023 của Chủ tịch UBND thành phố P về việc sửa đổi bổ sung Quyết định số 1785/QĐ-KPHQ ngày 11 tháng 5 năm 2023; Quyết định số 5245/QĐ-CCXP ngày 21/6/2023 của Chủ tịch UBND thành phố P về việc cưỡng chế buộc thực hiện biện pháp khắc phục hậu quả đối với ông Phạm Văn C.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ kiện được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa; ý kiến của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định:
Về thủ tục tố tụng:
Việc vắng mặt các đương sự tại phiên tòa:
Người khởi kiện, người bị kiện, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Căn cứ Điều 158 của Luật tố tụng hành chính, Tòa án xét xử vắng các đương sự.
Thẩm quyền thụ lý và giải quyết vụ án:
Ông Phạm Văn C yêu cầu Tòa án hủy quyết định buộc thực hiện biện pháp khắc phục hậu quả, quyết định cưỡng chế buộc thực hiện biện pháp khắc phục hậu quả đối với ông Phạm Văn C là khiếu kiện quyết định hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai, thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Kiên Giang theo quy định tại Điều 30, 32 của Luật tố tụng hành chính.
Thời hiệu khởi kiện:
Kể từ ngày ông Phạm Văn C nhận được quyết định đến ngày nộp đơn khởi kiện tại Tòa án ngày 24/10/2023 chưa hết một năm, còn thời hiệu khởi kiện theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 116 của Luật tố tụng hành chính.
Tính hợp pháp của các quyết định bị kiện:
Thẩm quyền ban hành các quyết định và pháp luật áp dụng:
Chủ tịch UBND thành phố P ban hành quyết định buộc thực hiện biện pháp khắc phục hậu quả, quyết định cưỡng chế buộc thực hiện biện pháp khắc phục hậu quả đối với ông Phạm Văn C là đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 2 Điều 38, Điều 87 của Luật xử lý vi phạm hành chính (sửa đổi, bổ sung năm 2020). Các văn bản pháp luật áp dụng giải quyết trong việc ban hành các quyết định đang có hiệu lực tại thời điểm ban hành quyết định là có căn cứ.
Xét nguồn gốc đất theo đơn khởi kiện của ông Phạm Văn C:
Diện tích đất 512,1m2 ông Phạm Văn C bị buộc thực hiện biện pháp khắc phục hậu quả và cưỡng chế buộc thực hiện biện pháp khắc phục hậu quả được xác định nằm trong diện tích đất theo Quyết định số 904/QĐ-UBND ngày 24/5/2007 của UBND tỉnh K về việc thu hồi đất và giao UBND huyện (nay là thành phố) P để lập phương án bồi thường, giải phóng mặt bằng, thực hiện quy hoạch xây dựng khu Du lịch - Dân cư B và Nam Bãi T1 tại xã D, thị trấn A thành phố P. Đến ngày 10/12/2007 UBND tỉnh K ban hành Quyết định số 2507/QĐ-UBND về việc giao đất cho Ban Q1 để lập phương án bồi thường, giải phóng mặt bằng, thực hiện quy hoạch xây dựng khu Du lịch - Dân cư B và N, nhưng UBND thành phố P chưa giao mà vẫn quản lý đất này nên được xác định chủ thể quản lý đất này vẫn là UBND thành phố P.
Ngày 27/9/2022 UBND xã D phát hiện ông Phạm Văn C đang chiếm 512,1m2 đất để xây dựng nhà ở, việc này có lập biên bản làm việc ông C thừa nhận, đến ngày 07/12/2022 công chức Địa chính - Xây dựng UBND xã D lập Biên bản vi phạm hành chính. Ông Phạm Văn C vào diện tích đất 512,1m2 thuộc quyền quản lý của UBND thành phố P sử dụng không được sự đồng ý của UBND thành phố P là hành vi chiếm đất được quy định tại điểm b khoản 2 Điều 14 Nghị định số 91/2019/NĐ-CP ngày 19/11/2019 của Chính phủ về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai. Do đó, ông C cho rằng không có hành vi chiếm đất là không có căn cứ, điều này còn được thể hiện tại Biên bản làm việc ngày 27/9/2022 do UBND xã D, ông C trình bày: “nguồn gốc đất do nhận chuyển nhượng năm 2019 từ ông Đào Văn Q ..... sau đó vào xây dựng nhà để ở,...... việc xây dựng nhà không có xin phép cơ quan chuyên môn. Thời điểm tôi nhận chuyển nhượng đất tôi không biết đất do Nhà nước quản lý”. Trong khi đó, ông C không có một trong các loại giấy tờ quy định tại Điều 100 của Luật đất đai năm 2013 và Điều 18 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật đất đai, điều này UBND thành phố P đã chứng minh về nguồn gốc đất và chủ thể quản lý đất.
Như vậy, việc chuyển nhượng đất giữa ông Phạm Văn C với ông Đào Văn Q là không phù hợp pháp luật nên việc sử dụng đất của ông C chưa được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền cho phép là hành vi chiếm đất của Nhà nước do UBND thành phố P quản lý.
Xét tính hợp pháp của quyết định buộc thực hiện biện pháp khắc phục hậu quả (Quyết định số 1785/QĐ-KPHQ ngày 11/5/2023):
Khi phát hiện hành vi chiếm đất của ông Phạm Văn C, công chức Địa chính
- Xây dựng xã D đã tiến lập Biên bản làm việc ngày 27/9/2022 đối với ông Phạm Văn C, ông C thừa nhận hành vi của mình, lẽ ra ngay thời điểm này phải được đo đạc xác định vị trí, diện tích đất và lập biên bản vi phạm hành chính và có biện pháp ngăn chặn, nhưng cán bộ Địa chính đã không thực hiện. Đến ngày 07/11/2022 mới đo đạc xác định vị trí đất, lập biên bản vi phạm hành chính đối với ông C. Cho thấy trách nhiệm quản lý đất đai của địa phương, của cán bộ được phân công chưa kịp thời để cho ông C chiếm đất xây dựng nhà ở một thời gian dài từ năm 2019 và dẫn đến việc không ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính. Tuy Chủ tịch UBND thành phố P không ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính, nhưng hậu của hành vi vi phạm cần phải được khắc phục để đảm bảo cho việc quản lý Nhà nước trong lĩnh vực đất đai, nên việc Chủ tịch UBND thành phố P ban hành quyết định buộc thực hiện biện pháp khắc phục hậu quả đối với ông Phạm Văn C là phù hợp quy định tại khoản 2 Điều 38, Điều 65 của Luật xử lý vi phạm hành chính.
Biện pháp khắc phục hậu quả, trong đó có buộc khôi phục lại tình trạng ban đầu của đất trước khi vi phạm, buộc trả đất và buộc nộp lại số lợi bất hợp pháp 5.356.430 đồng từ việc chuyển đổi mục đích sử dụng đất nông nghiệp (đất trồng cây lâu năm tại khu vực nông thôn) qua đất xây dựng nhà ở là phù hợp với khoản 7 Điều 14 Nghị định số 91/2019/NĐ-CP về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai.
Như vậy, việc Chủ tịch UBND thành phố P ban hành Quyết định số 1785/QĐ-KPHQ ngày 11/5/2023 về buộc thực hiện biện pháp khắc phục hậu quả đối với ông Phạm Văn C là phù hợp pháp luật.
Xét tính hợp pháp của Quyết định số 3317/QĐ-SĐBS ngày 21/6/2023 của Chủ tịch UBND thành phố P:
Nhận thấy, tại Quyết định số 1785/QĐ-KPHQ ngày 11/5/2023 có thiếu sót trong việc chưa thể hiện đầy đủ nội dung buộc ông Phạm Văn C khôi phục lại tình trạng ban đầu của đất trước khi vi phạm và buộc trả lại đất đã chiếm với diện tích 512,1m2 tại ấp Đ, xã D, thành phố P quản lý theo biên bản xác minh tình tiết của vụ việc vi phạm hành chính số 51/BB-XM do Ủy ban nhân dân xã D lập ngày 07/4/2023 nên Chủ tịch UBND thành phố P đã ban hành quyết định sửa đổi, bổ sung “Buộc ông Phạm Văn C khôi phục lại tình trạng ban đầu của đất trước khi vi phạm và buộc trả lại đất đã chiếm với diện tích 512,1m2 tại ấp Đ, xã D, thành phố P cho UBND thành phố P quản lý theo Biên bản xác minh tình tiết của vụ việc vi phạm hành chính số 51/BB-XM do Ủy ban nhân dân xã D lập ngày 07/11/2022 về việc đo đạc, xác định vị trí, diện tích, hiện trạng thực tế thửa đất ông Phạm Văn C chiếm theo Biên bản xác minh tình tiết của vụ việc vi phạm hành chính số 51/BB-XM do Ủy ban nhân dân xã D lập ngày 07/4/2023”.
Xét thấy, việc Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố P ban hành quyết định sửa đổi, bổ sung nói trên là đúng thẩm quyền, thời hạn và nội dung phù hợp với thực tế và phù hợp pháp luật.
Xét tính hợp pháp của Quyết định cưỡng chế buộc thực hiện biện pháp khắc phục hậu quả (Quyết định số 5245/QĐ-CCXP ngày 16/10/2023):
Xét thấy, như nhận định tại mục [2.2], [2.3], [2.4], [2.5] Chủ tịch UBND thành phố P ban hành quyết định buộc thực hiện biện pháp khắc phục hậu quả nhưng ông Phạm Văn C không tự nguyện chấp hành, nên ban hành quyết định cưỡng chế là đúng quy định tại Điều 87 của Luật xử lý vi phạm hành chính (sửa đổi, bổ sung năm 2020) và Điều 33 Nghị định số 166/2013/NĐ-CP ngày 12/11/2013 của Chính phủ quy định về cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính. Do đó, yêu cầu của ông Phạm Văn C về việc hủy quyết định cưỡng chế buộc thực hiện biện pháp khắc phục hậu quả là không có căn cứ. Đối với quyết định cưỡng chế buộc thực hiện biện pháp khắc phục hậu quả đến tại thời điểm xét xử Chủ tịch UBND thành phố P đã tổ chức thực hiện xong, việc tổ chức thực hiện quyết định cưỡng chế này là phù hợp theo quy định tại khoản 1 Điều 88 của Luật xử lý vi phạm hành chính (sửa đổi, bổ sung năm 2020).
Từ những nhận định trên, sau khi thảo luận nghị án, Hội đồng xét xử chấp nhận đề nghị của đại diện Viện kiểm sát; bác toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Phạm Văn C về việc yêu cầu hủy Quyết định số 3317/QĐ-SĐBS ngày 21/6/2023 của Chủ tịch UBND thành phố P về việc sửa đổi, bổ sung Quyết định số 1785/QĐ-KPHQ ngày 11 tháng 5 năm 2023; Quyết định số 5245/QĐ-CCXP ngày 21/6/2023 của Chủ tịch UBND thành phố P về việc cưỡng chế buộc thực hiện biện pháp khắc phục hậu quả đối với ông Phạm Văn C.
. Án phí hành chính sơ thẩm: Ông Phạm Văn C phải chịu án phí sơ thẩm 300.000 đồng, được trừ vào án phí tạm nộp theo biên lai thu số 0004505 ngày 16/11/2023 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Kiên Giang.
Chủ tịch UBND thành phố P không phải chịu án phí.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ các Điều 30, 32, 116, 158, 164, 193, 194 của Luật tố tụng hành chính.
- Căn cứ các Điều 38, 58, 65, 85, 87, 88 của Luật xử lý vi phạm hành chính (sửa đổi, bổ sung năm 2020);
- Căn cứ Nghị định số 91/2019/NĐ-CP ngày 19 tháng 11 năm 2019 của Chính phủ về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai;
- Nghị định số 166/2013/NĐ-CP ngày 12/11/2013 của Chính phủ quy định về cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính; Nghị định 118/2021/NĐ-CP ngày 23/12/2021 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật xử lý vi phạm hành chính;
- Căn cứ Điều 32 của Nghị Quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí của Tòa án.
Tuyên xử:
1. Không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Phạm Văn C, cụ thể:
- Không chấp nhận yêu cầu hủy Quyết định buộc thực hiện biện pháp khắc phục hậu quả số 1785/QĐ-KPHQ ngày 11 tháng 5 năm 2023 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố P đối với ông Phạm Văn C;
- Không chấp nhận yêu cầu hủy Quyết định số 3317/QĐ-SĐBS ngày 21 tháng 6 năm 2023 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố P về việc sửa đổi, bổ sung Quyết định số 1785/QĐ-KPHQ ngày 11 tháng 5 năm 2023;
- Không chấp nhận yêu cầu hủy Quyết định số 5245/QĐ-CCXP ngày 16 tháng 10 năm 2023 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố P về việc cưỡng chế buộc thực hiện biện pháp khắc phục hậu quả đối với ông Phạm Văn C.
2. Về án phí:
- Ông Phạm Văn C phải chịu án phí hành chính sơ thẩm 300.000 đồng, được trừ vào án phí tạm nộp theo biên lai thu số 0004505 ngày 16 tháng 11 năm 2023 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Kiên Giang.
- Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố P không phải nộp án phí hành chính sơ thẩm.
3. Các đương sự có mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đối với các đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật./.
| Nơi nhận: - Các đương sự; - TAND cấp cao TPHCM; - VKSND tỉnh Kiên Giang; - Cục THADS tỉnh Kiên Giang; - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Võ Thanh Huyến |