- Tranh chấp gì? án hình sự — "Đinh Văn M phạm tội “Giết người” - phạm tội giết người (điều 123 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 123 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH GIA LAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 85/2023/HSST Ngày: 11/9/2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH GIA LAI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đỗ Văn Hiên
Thẩm phán: Ông Võ Văn Bình
Hội thẩm nhân dân: Ông Võ Hoàng
Ông Trần Minh Đức
Ông Nguyễn Đăng Hưng
Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Hồng Nga – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai .
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Gia Lai tham gia phiên tòa: Ông Trịnh Vũ Thủy - Kiểm sát viên.
Trong ngày 11 tháng 9 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai, công khai xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 65/2023/TLST-HS ngày 30 tháng 6 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 163/2023/QĐXXST-HS ngày 28 tháng 8 năm 2023 đối với bị cáo:
Đinh Văn M, sinh ngày 10 tháng 11 năm 1976 tại tỉnh Bình Định. Nơi thường trú: Thôn Q, xã Ia T, huyện I, tỉnh Gia Lai; nơi ở hiện tại: Thôn 6, xã Ia P, huyện C, tỉnh Gia Lai; nghề nghiệp: Buôn bán; trình độ học vấn: 5/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Phật giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Văn H (cha nuôi) và bà Đinh Thị T (mẹ nuôi); có vợ là Phan Thị M (đã ly hôn) và 02 người con; tiền án, tiền sự: không.
Bị cáo ra đầu thú ngày 17/6/2022 và bị tạm giữ, tạm giam cho đến nay. Bị cáo hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Gia Lai. Có mặt.
* Người bào chữa cho bị cáo: Ông Hoàng Ngọc Xuân – Luật sư Văn phòng luật sư Bình Minh Th ộc Đoàn luật sư tỉnh Gia Lai. Có mặt.
* Bị hại: Bà Nguyễn Thị Kim Th, sinh năm 1973; địa chỉ: Thôn 6, xã Ia Piơr, huyện Chư Prông, tỉnh Gia Lai. Có mặt.
* Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
- Anh Nguyễn Văn Tr, sinh năm 1991; địa chỉ: Thôn 5, xã Ia Piơr, huyện Chư Prông, tỉnh Gia Lai. Vắng mặt.
- Chị Đinh Thị Bích Ph, sinh năm 1996; địa chỉ: Đội 4, Trung đoàn 710, huyện Chư Prông, tỉnh Gia Lai. Có mặt.
* Người làm chứng:
- Chị Phạm Thị H, sinh năm 1989; địa chỉ: Làng Piơr 1, xã Ia Piơr, huyện Chư Prông, tỉnh Gia Lai. Vắng mặt.
- Anh Ngần Văn Th1, sinh năm 1989; địa chỉ: Thôn 6, xã Ia Piơr, huyện Chư Prông, tỉnh Gia Lai. Vắng mặt.
- Chị Phạm Thị H1, sinh năm 1981; địa chỉ: Thôn 6, xã Ia Piơr, huyện Chư Prông, tỉnh Gia Lai. Vắng mặt.
- Anh Vũ Huy T, sinh năm 1979; địa chỉ: Thôn 6, xã Ia Piơr, huyện Chư Prông, tỉnh Gia Lai. Vắng mặt.
- Chị Bùi Thị Thu H2, sinh năm 2003; địa chỉ: Thôn 6, xã Ia Piơr, huyện Chư Prông, tỉnh Gia Lai. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
1. Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng tháng 6 năm 2021, Đinh Văn M từ huyện I, tỉnh Gia Lai lên địa bàn xã Ia P, huyện C, tỉnh Gia Lai mở quán bán bún phở tại khu vực Đội 4, Trung Đoàn 710, xã Ia P, huyện C. Quá trình buôn bán, M quen biết và phát sinh tình cảm với bà Nguyễn Thị Kim Th. Đến cuối năm 2021, M sang lại quán bún phở của mình cho người khác rồi đến sinh sống như vợ chồng với bà Th tại quán 79 của anh Nguyễn Văn Ch (em trai Th) tại thôn 6, xã Ia P, huyện C, tỉnh Gia Lai.
Quá trình làm ăn chung, giữa bà Th và Ch xảy ra mâu thuẫn nên tháng 3/2022, M cùng Th góp tiền Th ê đất và xây dựng quán ăn mới tại thôn 6, xã Ia P, huyện C, tỉnh Gia Lai. Sau khi chuyển sang quán mới bán được khoảng 01 tháng, giữa M và Th thường xảy ra mâu Th ẫn, cãi nhau. Vào ngày 13/6/2022, sau khi cãi nhau với Th, M bỏ đi chơi, đến chiều tối ngày 16/6/2022 M quay lại quán. Khi về, M thấy Th và vợ chồng anh Ngần Văn Th1 cùng chị Lò Thị Th2 đang phục vụ khách ăn uống, M cùng vào làm nhưng Th không cho. Bán đến khoảng hơn 19 giờ cùng ngày, Th cùng với hai con gái là Bùi Thị Thu H2 (Sinh năm 2003) và Bùi Thị Thu H (Sinh năm 2007) mang đồ ăn đến nhà anh Thủy và chị Th2 để ăn tối nhưng không gọi M đi cùng. M bực tức vì cho rằng Th và các con của Th không coi mình ra gì nên M đi xe mô tô đến nhà của anh Th1, đứng ở ngoài sân chửi Th 05 đến 10 phút không thấy Th nói gì nên M quay về quán. Đến khoảng hơn 21 giờ cùng ngày, mẹ con Th về đến quán, Th và con gái có nói chuyện với nhau thì M nghe có câu “Để cho nó cút đi”, nghĩ Th tìm cách gây sự đuổi mình ra khỏi nhà nên M bức tức và nảy sinh ý định dùng xăng đổ lên người Th để giết Th rồi tự tử. Sau đó, M đi ra phía sau nhà lấy chai nhựa màu xanh, loại dung tích 1,25 lít có chứa khoảng 0,5 lít xăng Ron 95 rồi đưa vào cất giấu tại phòng ngủ.
Th vào nhà và đi vào phòng ngủ, khi thấy M, giữa Th và M tiếp tục cãi nhau, quá trình cãi nhau M và Th lao vào giằng co, xô sát nhau. Lúc này, M dùng tay phải với lấy chai nhựa chứa khoảng 0,5 lít xăng Ron 95 cất giấu từ trước, dùng tay trái vòng qua ôm cổ, ngực của Th rồi đổ xăng lên đầu Th. Th tri hô kêu cứu thì chị H2 (con gái Th ) từ phòng bên chạy sang lao vào xô, đẩy M để kéo Th ra. Hương đẩy M ngã xuống giường rồi ngồi lên người M nhưng M vẫn nắm được tóc Th kéo theo. Khi Th bị ngã xuống nền nhà, H2 tiếp tục giằng co với M để lấy bật lửa từ tay M nhưng bị M đẩy ra. M ngồi dậy dí bật lửa vào đầu Th và châm lửa đốt làm lửa bùng cháy ở vùng đầu, mặt, cổ và ngực của Th. Bị cháy, Th vùng bỏ chạy ra khỏi phòng thì được Hương đổ bình nước lên đầu làm lửa tắt rồi cùng nhau bỏ chạy. M thấy vậy thì đuổi theo, khi H2 chạy được vài chục mét và bị ngã, M chạy đến chụp vào áo của H2 mục đích để Th thấy sẽ quay lại, nhưng thấy Th vẫn chạy nên M bỏ H2 ra và chạy đuổi theo Th đến nhà chị Nguyễn Thị Ch. Được người dân can ngăn, M không tìm Th nữa mà quay trở lại quán. Thấy lửa bùng cháy ở trong phòng ngủ, M vào dập lửa. Vì vẫn còn bực tức Th nên M đi ra nhà quán đập phá đồ đạc buôn bán của quán gồm 01 tủ kính bán cơm và nhiều bát đĩa có trong quán. Sau khi sự việc xảy ra, anh Vũ Huy T (hàng xóm) gọi điện trình báo sự việc đến Công an xã Ia P, huyện C, tỉnh Gia Lai.
Đến 00 giờ 30 phút ngày 17/6/2022, M đến Công an xã Ia P, huyện C đầu thú, khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội nêu trên. Đồng thời giao nộp 01 chai nhựa loại 1,25 lít có nhãn dán có chữ nước ngọt có ga Chánh Th hương vị bí đao. Chai không có nắp đậy, bên trong còn một ít nước có màu xanh và 01 bật lửa ga, bên ngoài có hình quả táo màu tím và hình điện thoại di động.
Nhận được tin báo, Công an xã Ia P, huyện C, tỉnh Gia Lai báo Cơ quan CSĐT Công an huyện C tiến hành khám nghiệm hiện trường, xác định:
Hiện trường xảy ra vụ án tại quán ăn Kim Th (Quán ăn XX) Thuộc thôn 6, xã Ia P, huyện C, tỉnh Gia Lai. Hiện trường đã bị xáo trộn một phần do quá trình đi lại và dọn dẹp đồ đạc của gia đình bị hại.
Mở rộng hiện trường không phát hiện dấu vết gì khác.
Đối với bà Nguyễn Thị Kim Th, sau khi bị đổ xăng đốt gây thương tích. Bà Th đến Bệnh viện đa khoa tỉnh Gia Lai điều trị ngày 22/6/2023 xuất viện. Sau đó, tiếp tục điều trị tại Phòng khám đa khoa P tại thôn 5, xã Ia P, huyện C đến tháng 7/2022.
Ngày 24/6/2022, Cơ quan CSĐT Công an huyện C ban hành Quyết định trưng cầu giám định số 69/TCGĐ-ĐTTH về việc trưng cầu giám định tỷ lệ phần trăm tổn hại sức khỏe của bà Nguyễn Thị Kim Th. Tại Kết luận giám định pháp y về thương tích số 206/22/TgT ngày 01/8/2022, Trung tâm pháp y tỉnh Gia Lai kết luận:
“1. Dấu hiệu chính qua giám định:
- Sẹo vết bỏng và rối loạn sắc tố da vùng mặt trái kích thước (10x14)cm, vành tai trái kích thước (6x2)cm; Cổ bên trái kích thước (13x12)cm, (diện tích 308cm2) chiếm 2,05% diện tích cơ thể, ảnh hưởng đến chức năng da và thẩm mỹ.
- Sẹo bỏng và rối loạn sắc tố da vùng cầu vai trái đến ngực trái kích thước (28x14)cm; Mỏm cùng vai trái đến mặt trước trên cánh tay trái kích thước (24x10)cm, (diện tích 632cm2) chiếm 4,21% diện tích cơ thể.
- Sẹo bỏng vùng 1/3 dưới cẳng tay trái kích thước (3x1)cm; Mu tay trái và ngón 2,3,4,5 bàn tay trái kích thước (12x8)cm; Mu ngón 1 bàn tay trái kích thước (1x2)cm; Mu ngón 2 bàn tay phải kích thước (6x2,5)cm, (diện tích 122cm2) chiếm 0,81% ≈1% diện tích cơ thể.
2. Tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên tại thời điểm giám định là: 18% (Mười tám phần trăm). Áp dụng phương pháp cộng theo Thông tư 22/2019/TT-BYT.
3. Kết luận khác: Cơ chế hình thành vết thương: Do sự tác động trực tiếp với nhiệt.”
Ngày 15/7/2022, Cơ quan CSĐT Công an huyện C ban hành Quyết định trưng cầu giám định số 82/TCGĐ-ĐTTH về việc trưng cầu giám định chất lỏng màu xanh lá đựng trong chai nhựa loại 1.25L, mặt ngoài có chữ Chánh Thắng, do Đinh Văn M giao nộp khi đầu thú. Tại bản kết luận giám định số 531/KL-KTHS ngày 15/8/2022, Phòng kỹ Thuật hình sự Công an tỉnh Gia Lai kết luận: Chất lỏng màu xanh đựng trong 01 (một) chai nhựa, có nhãn hiệu “Chánh Thắng”, dung tích 1,25l niêm phong gửi giám định là nhiên liệu xăng, loại xăng Ron A95.
Ngày 10/5/2023, Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Gia Lai đã có Yêu cầu số: 509/YC-CSHS, yêu cầu Hội đồng định giá tài sản thường xuyên trong Tố tụng hình sự tỉnh Gia Lai tiến hành định giá các tài sản gồm:
“- Chi phí sửa chữa thay kính cửa tủ đứng, loại tủ dùng để trưng đồ ăn bán cơm, khung bằng kim loại mạ kẽm màu trắng bạc, xung quanh quây bằng kính, kích thước: Cao 2m, dày 0,5m, rộng 1,5m;
- 01 cái chiếu nhựa (loại chiếu đôi) không rõ đặc điểm, nhãn hiệu;
- 03 cái chăn (mền) không rõ đặc điểm, kích thước, chủng loại;
- 100 bát tô bằng sành (loại tô bán phở), không rõ đặc điểm, kích thước, nhãn hiệu;
- 100 đĩa bằng sành, loại đĩa dùng để bán cơm, không rõ đặc điểm, kích thước, nhãn hiệu;
- 100 bát đựng canh (bát ăn cơm) bằng sành, không rõ đặc điểm, kích thước, nhãn hiệu;
- 50 chén nhỏ, loại chén đựng mắm, không rõ đặc điểm, kích thước, nhãn hiệu.”
Ngày 08/6/2023, Hội đồng định giá tài sản thường xuyên trong Tố tụng hình sự tỉnh Gia Lai có Công văn số 1868/CV-HĐĐGTS trả lời như sau:
Các tài sản Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Gia Lai yêu cầu định giá trên không có nguồn gốc, đặc điểm, nhãn hiệu, kích thước, chủng loại nên Hội đồng định giá tài sản thường xuyên trong Tố tụng hình sự tỉnh Gia Lai không Th thập được thông tin giao dịch trên thị trường đối với các tài sản đó để làm căn cứ kết luận định giá theo yêu cầu của Cơ quan điều tra.
Về trách nhiệm dân sự trong vụ án:
Bị hại Nguyễn Thị Kim Th yêu cầu bị cáo Đinh Văn M bồi thường số tiền là 139.675.960 đồng (gồm: tiền viện phí, tiền khám chữa bệnh, tiền Th ốc, tiền xe đi lại, tiền ngày công lao động, tiền tổn hại sức khỏe, tinh thần; tiền bồi thường tài sản bị thiệt hại…). Sau khi gây án, Đinh Văn M đã tác động gia đình bồi thường cho bị hại Th số tiền 15.000.000 đồng. Bị hại Th tiếp tục yêu cầu bị cáo M bồi thường số tiền còn lại là 124.675.960 đồng. Bị cáo M đồng ý bồi thường số tiền trên, tuy nhiên hiện tại bị can không còn tài sản gì nên sau khi chấp hành án xong bị cáo sẽ tiếp tục bồi thường.
Trong tổng số tiền bị hại Th yêu cầu bị cáo M bồi thường có số tiền điều trị tại phòng khám P là 7.310.000 đồng và tiền thuốc tại nhà thuốc Tr là 11.975.000 đồng. Đối với số tiền này, anh Nguyễn Văn Tr (Bác sĩ, Chủ phòng khám P và nhà thuốc T) xác định hiện tại bị hại Nguyễn Thị Kim Th đang nợ số tiền trên. Nếu bị hại Th yêu cầu bị can M bồi thường số tiền này thì anh Tr không yêu cầu bị cáo M phải trả số tiền trên, anh Tr cho bị cáo M.
Vật chứng của vụ án đã thu giữ: 01 chai nhựa loại 1,25 lít có nhãn dán có chữ nước ngọt có ga Chánh Th hương vị bí đao, chữ Chánh Th màu đỏ và to hơn các dòng chữ khác, chai không có nắp đậy, bên trong còn một ít nước có màu xanh và 01 bật lửa ga, bên ngoài có hình quả táo màu tím và hình điện thoại di động.
Tại Cáo trạng số 99/CT-VKS-P2 ngày 29/6/2023,Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Gia Lai đã truy tố bị cáo Đinh Văn M về tội: “Giết người” theo quy định tại điểm l, n khoản 1 Điều 123 Bộ luật Hình sự.
2. Diễn biến phiên tòa:
- Bị cáo khai nhận hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng và thấy hối hận về hành vi phạm tội của mình, xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt. Về bồi thường dân sự, bị cáo đồng ý bồi thường cho bị hại số tiền 105.000.000 đồng.
- Đại diện Viện kiểm sát tỉnh Gia Lai giữ nguyên quan điểm truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Đinh Văn M phạm tội “Giết người”.
+ Áp dụng điểm l, n khoản 1 Điều 123; Điều 38; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 15, khoản 3 Điều 57 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Đinh Văn M.
Xử phạt bị cáo Đinh Văn M mức án từ 12 năm đến 13 năm tù.
+ Về dân sự: Công nhận sự thỏa thuận giữa bị cáo và bị hại về bồi thường dân sự, theo đó bị cáo phải bồi thường bị hại số tiền 105.000.000 đồng.
+ Vật chứng của vụ án: Tịch thu tiêu hủy 01 bật lửa ga, trên thân có dán mác hình quả táo và 01 chai nhựa hình trụ tròn, trên thân có dán nhãn hiệu Chánh Th, loại chai 1,25 lít, trong chai nhựa có chất lỏng màu xanh vàng (không xác định dung dịch).
+ Về án phí: Buộc bị cáo chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
- Người bào chữa cho bị cáo đồng ý với tội danh, điểm, khoản, điều luật như lời luận tội của đại diện Viện kiểm sát, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét áp dụng các tình tiết giảm nhẹ tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự và quy định về trường hợp phạm tội chưa đạt theo Điều 15, khi quyết định hình phạt để xử phạt bị cáo dưới mức thấp nhất của khung hình phạt.
- Bị hại bà Nguyễn Thị Kim Th trình bày: Về hành vi phạm tội của bị cáo, chị đề nghị xử lý theo quy định của pháp luật. Về yêu cầu bồi thường, đồng ý khấu trừ đi số tiền điều trị tại phòng khám P là 7.310.000 đồng và tiền thuốc tại nhà thuốc T là 11.975.000 đồng, tổng cộng 19.285.000 đồng và yêu cầu bị cáo tiếp tục bồi thường số tiền 105.000.000 đồng.
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan chị Đinh Thị Bích Ph trình bày: bị cáo đã tác động gia đình bồi thương cho bị hại số tiền 15.000.000 đồng, gia đình tự nguyện bồi thường số tiền trên và không có yêu cầu gì.
NH N Đ NH CỦA T A ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều ra, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Người bào chữa cho bị cáo, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng và các chứng cứ có tại hồ sơ vụ án là hợp pháp.
[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với các chứng cứ có tại hồ sơ vụ án, có đủ căn cứ kết luận: Đinh Văn M và Nguyễn Thị Kim Th quen biết nhau từ khoảng tháng 6/2021 và chung sống với nhau như vợ chồng nhưng không đăng ký kết hôn. Đến khoảng tháng 3/2022, cả hai cùng nhau góp tiền thuê đất và xây dựng quán bán cơm và bún phở tại thôn 6, xã Ia P, huyện C. Quá trình chung sống, giữa M và Th thường xuyên xảy ra mâu thuẫn cãi nhau. Khoảng hơn 21 giờ ngày 16/6/2023, M và Th tiếp tục cãi nhau, nghĩ Th tìm cách gây sự đuổi mình ra khỏi nhà nên M nảy sinh ý định dùng xăng đổ lên người Th để giết Th rồi tự tử, M chuẩn bị khoảng 0,5 lít xăng Ron 95 đưa vào cất giấu tại phòng ngủ. Sau khi Th về nhà và bước vào phòng ngủ, cả hai tiếp tục cãi nhau nên M lấy chai xăng Ron A95 đã chuẩn bị sẵn đổ lên đầu của Th rồi châm lửa đốt làm lửa bùng cháy ở vùng đầu, mặt, cổ và ngực của Th. Th vùng bỏ chạy được thì M tiếp tục đuổi theo Th nhưng được mọi người can ngăn nên M quay về quán dập lửa đang bùng cháy ở trong phòng ngủ và đập phá đồ đạc buôn bán của quán gồm 01 tủ kính bán cơm và nhiều bát đĩa.
Tại Kết luận giám định pháp y về thương tích số 206/22/TgT ngày 01/8/2022, Trung tâm pháp y tỉnh Gia Lai kết luận: Tỉ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên tại thời điểm giám định của Nguyễn Thị Kim Th là 18%.
Bị cáo có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi của bản thân là vi phạm pháp luật. Xuất phát từ những mâu thuẫn nhỏ trong quá trình chung sống với bị hại, bị cáo đã sử dụng xăng là chất dễ cháy để đốt bị hại, đây là phương pháp có tính nguy hiểm cao, cháy lan rộng có thể làm chết nhiều người. Do đó, Viện kiểm sát truy tố bị cáo tội “Giết người” với tình tiết định khung “Bằng phương pháp có khả năng làm chết nhiều người”, “Có tính chất côn đồ” theo quy định tại điểm l, n khoản 1 Điều 123 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng tội.
[3] Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội và hình phạt: Hành vi phạm tội của bị cáo là đặc biệt nghiêm trọng, xâm phạm đến tính mạng của người khác được pháp luật bảo vệ và gây ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an xã hội tại địa phương. Bị cáo phạm tội đặc biệt nghiêm trọng với hai tình tiết tăng nặng định khung, do đó Hội đồng xét xử thấy rằng cần xử phạt bị cáo mức án thật nghiêm khắc, cách lý bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian dài để răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.
Hậu quả chết người chưa xảy ra thuộc trường hợp phạm tội chưa đạt, nên Hội đồng xét xử áp dụng quy định về phạm tội chưa đạt theo Điều 15, khoản 3 Điều 57 Bộ luật Hình sự khi quyết định hình phạt đối với bị cáo.
[4] Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự;
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Sau khi phạm tội bị cáo đã ra đầu thú; trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; tác động gia đình bồi thường khắc phục một phần hậu quả cho bị hại. Do đó, bị cáo được áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
[5] Về trách nhiệm dân sự:
Bị hại Nguyễn Thị Kim Th yêu cầu bị cáo Đinh Văn M bồi thường số tiền là 139.675.960 đồng (gồm: tiền viện phí, tiền khám chữa bệnh, tiền Th ốc, tiền xe đi lại, tiền ngày công lao động, tiền tổn hại sức khỏe, tinh thần; tiền bồi thường tài sản bị thiệt hại…). Bị cáo Đinh Văn M đã tác động gia đình bồi thường cho bị hại Th số tiền 15.000.000 đồng.
Tại phiên tòa, bị cáo Đinh Văn M và bị hại Nguyễn Thị Kim Th đã thỏa thuận được với nhau về việc bồi thường, bị cáo phải tiếp tục bồi thường số tiền 124.675.960 đồng, được khấu trừ đi số tiền điều trị tại phòng khám P là 7.310.000 đồng và tiền thuốc tại nhà thuốc T là 11.975.000 đồng, tổng cộng: 19.825.000 đồng, anh Nguyễn Văn Tr (Bác sĩ, Chủ phòng khám P và nhà thuốc T) không yêu cầu bị cáo trả lại. Do đó, bị cáo còn phải bồi thường số tiền 105.000.000 đồng cho bị hại.
Xét thỏa thuận là tự nguyện, không trái quy định pháp luật, đạo đức xã hội nên được Hội đồng xét xử công nhận.
[6] Về vật chứng: Xét 01 bật lửa ga, trên thân có dán mác hình quả táo và 01 chai nhựa hình trụ tròn, trên thân có dán nhãn hiệu Chánh Th, loại chai 1,25 lít, trong chai nhựa có chất lỏng màu xanh vàng (không xác định dung dịch) là phương tiện, công cụ phạm tội, không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.
[7] Các vấn đề khác:
- Trong vụ án, bị cáo Đinh Văn M còn có hành vi đốt cháy và đập vỡ làm hư hỏng một số tài sản của bị hại Nguyễn Thị Kim Th. Tuy nhiên, quá trình điều tra không xác định được tổng giá trị thiệt hại của các tài sản bị hư hỏng nên không có căn cứ để xem xét xử lý Đinh Văn M về tội Hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản theo quy định tại Điều 178 Bộ luật Hình sự. Do vậy, Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Gia Lai đã ra Quyết định xử phạt vị phạm hành chính đối với bị cáo M về hành vi Hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản theo quy định của pháp luật là có căn cứ.
- Đối với hành vi Đinh Văn M đuổi theo cháu Bùi Thị Thu H2. Qua điều tra xác định quá trình xô đẩy để giải cứu bị hại Th, H2 cũng bị xăng dính vào người nhưng bị cáo M không châm lửa đốt H2 và H2 không bị cháy. Khi chạy thoát bị cáo M đuổi theo H2 và bị hại Th mục đích kéo H2 lại để Th quay về, nhưng khi bị hại Th không quay lại nên M đã bỏ H2 ra, không gây thương tích gì cho H2. Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Gia Lai không xử lý M về hành vi này là phù hợp.
[8] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT Đ NH:
1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Đinh Văn M phạm tội “Giết người”.
2. Về hình phạt: Áp dụng điểm l, n khoản 1 Điều 123; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 15; khoản 3 Điều 57; Điều 38 Bộ luật Hình sự;
Xử phạt bị cáo Đinh Văn M 12 (Mười hai) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 17/6/2022.
3. Về dân sự: Căn cứ Điều 48 Bộ luật Hình sự; Điều 584, 585, 587 và Điều 590 Bộ luật Dân sự:
Buộc bị cáo Đinh Văn M phải bồi thường cho bị hại Nguyễn Thị Kim Th số tiền 105.000.000 đồng (Một trăm lẻ năm triệu đồng).
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
4. Về vật chứng: Căn cứ Điều 106 BLTTHS năm 2015, tịch thu tiêu hủy:
- 01 (Một) bật lửa ga, trên thân có dán mác hình quả táo;
- 01 (Một) chai nhựa hình trụ tròn, trên thân có dán nhãn hiệu Chánh Thắng, loại chai 1,25 lít, trong chai nhựa có chất lỏng màu xanh vàng (không xác định dung dịch).
Các vật nêu trên có đặc điểm ghi tại biên bản giao nhận vật chứng số 110/2023 lập ngày 19/7/2023 giữa Công an tỉnh Gia Lai và Cục Thi hành án dân sự tỉnh Gia Lai.
5. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12 /2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức Th , miễn, giảm, Th , nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:
Bị cáo Đinh Văn M phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 5.250.000 đồng (Năm triệu hai trăm năm mươi nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm để sung Ngân sách Nhà nước.
6. Về quyền kháng cáo: Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo yêu cầu Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng xét xử phúc thẩm. Người vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được hoặc ngày niêm yết bản án.
7. Về thi hành án dân sự: Trường hợp bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa Th ận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.
| Nơi nhận: - Viện KSND cấp cao; - TAND cấp cao; - Viện KSND tỉnh Gia lai; - Phòng HSNV Công an tỉnh Gia Lai; - VP CQCSĐT Công an tỉnh Gia Lai; - Sở Tư pháp tỉnh Gia Lai; - Cục THADS tỉnh Gia Lai; - Trại tam giam T20; - Bị cáo; - Người tham gia tố tụng khác; - Lưu Tòa HS, VT, Hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Đỗ Văn Hiên |