vanban.org

Bản án 85/2023/HSST — Hình sự

TAND Q. Thốt Nốt, TP. Cần Thơ Tuyên án 01/12/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
QU N TH T N T
THÀNH PH CẦN THƠ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 85 /2023/HSST
Ngày: 01- 12- 2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN QU N TH T N T - THÀNH PH CẦN THƠ

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Văn Kiệt

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Thái Ánh Trinh – Giáo viên hưu trí

2. Bà Huỳnh Thị Mỹ Nhung – Cán bộ hưu trí

Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Mỹ Hằng –Thư ký Toà án nhân dân

qu n Thốt Nốt - thành phố Cần Thơ.

Đại diện viện kiểm sát nhân dân u n Th t t - thành ph Cần Thơ

tham gia phiên toà: Bà Đỗ Thị Thùy Trang - Kiểm sát viên.

Ngày 01 tháng 12 năm 2023, tại tr s T a án nh n d n qu n Thốt Nốt -

thành phố Cần Thơ (điểm cầu trung tâm) và Nhà tạm giữ - Công an qu n T – thành phố Cần Thơ (điểm cầu thành phần) ti n h nh xét xử sơ thẩm công khai, trực tuy n v án hình sự th lý số: 77/2023/HSST ng y 31 tháng 10 năm 2023, theo Quy t định đưa v án ra xét xử số: 83/2023/QĐXXST-HS ngày 09 tháng 11 năm 2023, đối với các bị cáo:

1. Họ v tên: Cao Thanh K - sinh năm 2003; Giới tính: Nam; Nơi cư tr : Khu vực L, phường T, qu n T, thành phố Cần Thơ; Quốc tịch: Việt Nam; D n tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Trình độ học vấn: 3/12; Nghề nghiệp: l m thuê. Họ tên cha: Mai Thanh S - sinh năm 1974 (sống); Họ tên mẹ: Cao Thị Ho ng O - sinh năm 1979 (sống); A, em ruột có 02 người, lớn - sinh năm 2000, nhỏ - sinh năm: 2014. Tiền án: chưa;

- Tiền sự: có 02 lần.

+ Lần thứ nhất: Ng y 10/9/2022, bị Công an qu n T, th nh phố Cần Thơ xử phạt vi phạm h nh chính số tiền 3.000.000 đồng về h nh vi Trộm cắp t i sản, theo quy t định số 0019585/QĐ-XPHC. Chưa thực hiện nộp phạt.

+ Lần thứ hai: Ng y 19/01/2023, bị Công an phường T, qu n T, th nh phố Cần Thơ xử phạt vi phạm h nh chính số tiền 1.500.000 đồng về h nh vi Sử d ng trái phép chất ma tuý. Chưa thực hiện nộp phạt.

Nhân thân:

+ Ng y 26/8/2020, bị T a án nh n d n qu n Thốt Nốt, th nh phố Cần Thơ xử phạt 01 năm tù cho hư ng án treo, thời gian thử thách 02 năm tính từ ngày tuyên án, về tội Trộm cắp tài sản. Chấp h nh xong thời gian thử thách ng y 26/4/2022.

+ Ng y 14/9/2023, bị T a án nh n d n qu n Thốt Nốt, th nh phố Cần Thơ xử phạt 06 tháng tù, về tội Trộm cắp t i sản.

Bị tạm giam từ ng y 20/7/2023 đ n nay tại Nh tạm giữ - Công an qu n T, th nh phố Cần Thơ. Có mặt.

2. Họ v tên: Đàm Văn M - sinh ngày 20/5/2005; Giới tính: Nam; Nơi cư tr : Khu vực P, phường T, qu n T, th nh phố Cần Thơ; Quốc tịch: Việt Nam; D n tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Trình độ học vấn: 8/12; Nghề nghiệp: không. Họ tên cha: Huỳnh Ngọc T - sinh năm 1982 (sống); Họ tên mẹ: Đ m Thị B - sinh năm 1977 (sống); Em ruột: có 01 người, sinh năm 2014. Tiền án: chưa; Tiền sự: Ng y 26/10/2022 bị Công an qu n T, th nh phố Cần Thơ xử phạt vi phạm h nh chính số tiền 2.500.000 đồng về h nh vi Cố ý g y thương tích, theo quy t định số 0019820/QĐ-XPHC. Nộp phạt xong ng y 24/5/2023.

Bị can bị áp d ng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư tr . Có mặt.

3. Họ v tên: Nguyễn Văn P - sinh ngày 09/11/2006; Giới tính: Nam; Nơi cư tr : Khu vực P, phường T, qu n T, th nh phố Cần Thơ; Quốc tịch: Việt Nam; D n tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Trình độ học vấn: Lớp 3 (khai tại phiên t a); Nghề nghiệp: l m thuê. Họ tên cha: Nguyễn Văn P1 - sinh năm 1971 (sống); Họ tên mẹ: Lê Thị H - sinh năm 1973 (sống); Anh ruột: có 01 người, sinh năm 1998. Tiền án: chưa; Tiền sự: 01 lần. Ng y 02/12/2022 bị Công an phường T, qu n T, th nh phố Cần Thơ xử phạt vi phạm h nh chính số tiền 750.000 đồng về h nh vi Sử d ng trái phép chất ma t y, theo quy t định số 0017413/QĐ-XPHC. Nộp phạt xong ng y 08/12/2023.

Bị can bị áp d ng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư tr . Có mặt.

Người đại diện cho bị cáo P: Bà Lê Thị H - sinh năm 1973. Cư tr : Khu vực P, P. T, Q. T, Tp .. Có mặt.

Người bào chữa cho bị cáo P: Ông Lưu Ngọc S1 – Trợ gi p viên pháp lý - Trung t m Trợ gi p pháp lý nh nước th nh phố C. Có mặt.

Người bào chữa cho bị cáo M: Bà Huỳnh Thanh K1 – Trợ gi p viên pháp lý - Trung t m Trợ gi p pháp lý nh nước th nh phố C. Có mặt.

Người bị hại: Trần Tấn P2 – sinh ng y 27/6/2009. Vắng mặt.

Người đại diện cho P2: Ông Võ Văn V Bà Trần Thị Kim T1

Cư tr : Khu vực P, P. T, Q. T, Tp .. Vắng mặt.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho P2: Bà Nguyễn Lý Xuân T2 – Trợ gi p viên pháp lý - Trung t m Trợ gi p pháp lý nh nước th nh phố C. Có mặt.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

Bà Trần Thị Bích N – sinh năm 2000. Vắng mặt

Cư tr : Khu vực P, P. T, Q. T, Tp ..

Ông Phan Hữu T3 – sinh năm 1957. Vắng mặt

Cư tr : Khu vực P, P. T, Q. T, Tp ..

Ông Mai Thanh S - sinh năm 1974 (cha của bị cáo K). Vắng mặt

Cư tr : Khu vực L, phường T, qu n T, thành phố Cần Thơ

Bà Đàm Thị B – sinh năm 1977 (mẹ của bị cáo M). Có mặt

Cư tr : Khu vực P, P. T, Q. T, Tp ..

Bà Lê Thị H – sinh năm 1973 (mẹ của bị cáo P). Có mặt

Cư tr : Khu vực P, P. T, Q. T, Tp ..

NỘI DUNG V ÁN:

Qua các tài liệu có trong h s vụ án và quá trình xét h i, tranh lu n tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm t t như sau:

Khoảng 14 giờ ngày 25/02/2023, Cao Thanh K rủ Nguyễn Văn P – sinh ngày 09/11/2006 và Đ m Văn M - sinh ngày 20/5/2005 đi tìm tài sản để trộm bán lấy tiền mua ma tuý sử d ng và tiêu xài, P và M đồng ý. Sau đó, K điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 65HE – 0347 do P mang đ n, ch P và M đ n khu T thuộc khu vực P, phường T, qu n T. Khi đ n nh để xe của khu thể thao, K lấy trộm một xe đạp điện hiệu Hitasa m u xanh đen của Trần Tấn P2 đang đ u trong nhà xe, K dẫn xe ra phía ngoài và kêu M điều khiển xe đạp điện vừa lấy trộm, còn K điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 65HE – 0347 ch P. Cả ba bị cáo đi đ n vựa thu mua ph liệu tuy n tránh T thuộc khu vực P, phường T, qu n T để bán. Do sợ chủ vựa ph liệu nghi ngờ nên K tháo bình điện của xe đạp điện ra và bán chi c xe đạp điện cho bà Trần Thị Bích N với giá 650.000 đồng, K đưa cho M giữ số tiền vừa bán xe đạp điện. K điều khiển xe mô tô ch M và P cùng bình điện xe đạp điện về nhà K. Khi về đ n nhà K, M nói với P ngồi nh Khánh đợi, K ti p t c điều khiển xe mô tô ch M cùng bình điện xe đạp điện đ n tiệm Chín Du tại chợ T4 (do ông Phan Hữu T3 l m chủ) bán với giá 150.000 đồng. Tổng số tiền bán xe đạp điện và bình điện được 800.000 đồng, K chia cho M 200.000 đồng, K giữ 200.000 đồng, còn 400.000 đồng K, M và P cùng nhau đi đ n Số B xã V, huyện V mua ma t y với giá 340.000 đồng và cùng nhau sử d ng; số tiền c n lại chi x i cá nh n h t.

Đ n khoảng 16 giờ cùng ngày, Trần Tấn P2 phát hiện xe đạp điện bị mất trộm nên đ n Công an phường T, qu n T trình báo. Sau khi ti p nh n tin báo, Công an phường T ti n h nh trích xuất dữ liệu camera an ninh, xác định Cao Thanh K, Đ m Văn M và Nguyễn Văn P thực hiện hành vi trộm cắp t i sản.

Tại Bản k t lu n định giá tài sản số 24/BKL-HĐĐTS ng y 18/4/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố t ng hình sự Ủy ban nh n d n qu n T k t lu n: 01 (một) chi c xe đạp điện nhãn hiệu Hitasa, màu xanh đen với giá trị l 3.500.000 đồng (ba triệu năm trăm ng n đồng).

Quá trình điều tra, bà Trần Thị Bích N chủ cơ s thu mua ph liệu tự nguyện giao nộp Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an qu n T v Cơ quan Cảnh sát điều tra ti n hành trả lại cho Trần Tấn P2 01 (một) chi c xe đạp điện nhãn hiệu Hitasa, m u xanh đen. Riêng bình điện xe đạp sau khi mua ông Phan Hữu T3 đã bán lại cho người khác nên không thu hồi lại được.

Gia đình các bị cáo M và P đã cùng nhau bồi thường cho bà Trần Thị Bích N số tiền 650.000 đồng v tiền mua bình điện mới trả lại cho Trần Tấn P2 với số tiền 1.860.000 đồng, bà N và P2 không có yêu cầu gì thêm. Tại Cáo trạng Số 89/CT-VKS ng y 30 tháng 10 năm 2023, Viện kiểm sát nh n d n qu n Thốt Nốt – th nh phố Cần Thơ truy tố các bị cáo Cao Thanh K, Đ m Văn M và Nguyễn Văn P về tội “Trộm cắp t i sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ lu t Hình sự.

Tại phiên t a, các bị cáo thừa nh n hành vi phạm tội như Cáo trạng truy tố. Kiểm sát viên thực hành quyền công tố giữ nguyên quan điểm truy tố, đồng thời đề nghị:

- Về trách nhiệm hình sự:

Áp d ng: khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm o khoản 1 Điều 52; Điều 38; Điều 56 của Bộ lu t Hình sự năm 2015; sửa đổi bổ sung năm 2017;

+ Xử phạt bị cáo Cao Thanh K từ 01 năm đ n 01 năm sáu tháng tù. Tổng hợp với hình phạt 06 tháng tù của Bản án hình sự sơ thẩm số 56/2023/HS-ST ngày 14 tháng 9 năm 2023 của T a án nh n d n qu n Thốt Nốt – th nh phố Cần Thơ, buộc bị cáo Cao Thanh K phải chấp hành hình phạt chung từ 01 năm 06 tháng đ n 02 năm tù.

+ Hình phạt bổ sung: Không áp d ng.

Áp d ng: khoản 1 Điều 173; điểm b, i, s khoản 1 Điều 51; Điều 36; Điều 91, Điều 101 của Bộ lu t Hình sự năm 2015; sửa đổi bổ sung năm 2017 đối với bị cáo Đ m Văn M bà bị cáo Nguyễn Văn P;

+ Xử phạt bị Đ m Văn M từ 06 tháng đ n 09 tháng cải tạo không giam giữ.

+ Hình phạt bổ sung: Không áp d ng.

+ Xử phạt bị Nguyễn Văn P từ 06 tháng đ n 09 tháng cải tạo không giam giữ.

+ Hình phạt bổ sung: Không áp d ng.

- Về trách nhiệm dân sự và xử lý v t chứng:

+ Công nh n Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an qu n T đã xử lý v t chứng, trả lại cho Trần Tấn P2 01 chi c xe đạp điện nhãn hiệu Hitasa, m u xanh đen. Gia đình các bị cáo M và P đã cùng nhau mua bộ B1 xe đạp mới với giá 1.860.000 đồng để bồi thường cho Trần Tấn P2 xong. Người bị hại không có yêu cầu gì khác.

+ Công nh n gia đình các bị cáo M và P đã cùng nhau bồi thường cho bà Trần Thị Bích N số tiền bà mua chi c xe đạp điện l 650.000 đồng. Bà N không có yêu cầu gì khác.

+ Đối với bình điện xe đạp sau khi mua ông Phan Hữu T3 đã bán lại cho người khác nên không thu hồi lại được.

Người bào chữa cho bị cáo Đàm Văn M tranh lu n: Thống nhất tội danh; khung hình phạt; các tình ti t giảm nhẹ m đại diện Viện kiểm sát đề nghị. Thời điểm thực hiện hành vi phạm tội bị cáo M chưa đủ 18 tuổi, nên cần áp d ng những quy định pháp lu t đối với người dưới 18 tuổi phạm tội. Đề nghị xử phạt bị cáo M 06 tháng cải tạo không giam giữ.

Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Văn P tranh lu n: Thống nhất tội danh; khung hình phạt; các tình ti t giảm nhẹ m đại diện Viện kiểm sát đề nghị. Ngoài ra cần áp d ng thêm tình ti t giảm nhẹ l “phạm tội nhưng chưa g y thiệt hại hoặc gây thiệt hại không lớn”, ho n cảnh gia đình bị cáo khó khăn. Bị cáo P chưa đ n 18 tuổi, nên cần áp d ng những quy định pháp lu t đối với người dưới 18 tuổi phạm tội. Đề nghị xử phạt bị cáo P 06 tháng cải tạo không giam giữ.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người bị hại tranh lu n: Thống nhất tội danh v khung hình phạt m đại diện Viện kiểm sát đề nghị. Hành vi phạm tội của các bị cáo không những xâm hại đ n quyền s hữu tài sản của người khác, mà c n l m ảnh hư ng xấu đ n tr t tự địa phương. Nên thống nhất mức đề nghị xử phạt của đại diện Viện kiểm sát.

Đại diện Viện kiểm sát đối đáp: Đ y l tội ít nghiêm trọng, giá trị tài sản chi m đoạt trên mức kh i điểm 2.000.000 đồng. Hơn nữa ngoài y u tố v t chất thì y u tố phi v t chất như tình hình an ninh, tr t tự, t m lý người dân... là không thể đong đ m được. Do đó, Viện kiểm sát không đề nghị áp d ng tình ti t “phạm tội nhưng chưa gây thiệt hại hoặc gây thiệt hại không lớn”.

Các bị cáo nói lời sau cùng: Xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

NH N Đ NH CỦA HỘI Đ NG X T X :

Trên cơ s nội dung v án, căn cứ v o các t i liệu trong hồ sơ v án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh lu n tại phiên t a, Hội đồng xét xử nh n thấy như sau:

[1] Về h nh vi, quy t định tố t ng của Cơ quan điều tra Công an qu n T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nh n d n qu n Thốt Nốt, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đ ng về thẩm quyền, trình tự thủ t c quy định của Bộ lu t Tố t ng hình sự. Quá trình điều tra v tại phiên t a không có người n o khi u nại về h nh vi, quy t định của Cơ quan ti n h nh tố t ng, người ti n h nh tố t ng. Do đó, các h nh vi, quy t định tố t ng của Cơ quan ti n h nh tố t ng, người ti n h nh tố t ng đã thực hiện đều hợp pháp. [2] Trong điều tra v tại phiên t a, các bị cáo đã thừa nh n h nh vi phạm tội, lời nh n tội của các bị cáo phù hợp với các chứng cứ khác được thu th p trong quá trình điều tra.

Như v y, có cơ s xác định, các bị cáo Cao Thanh K, Đ m Văn M và Nguyễn Văn P đã có h nh vi lợi d ng sự sơ h của người khác để lén lút chi m đoạt trái phép tài sản, nhằm m c đích đem bán lấy tiền mua ma t y sử d ng v tiêu xài cá nhân. Giá trị tài sản bị chi m đoạt theo k t lu n định giá l 3.500.000 đồng. Các bị cáo đều có năng lực chịu trách nhiệm hình sự, thực hiện với lỗi cố ý trực ti p. Hành vi các bị cáo thực hiện đã đủ y u tố cấu thành tội “Trộm c p tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ lu t Hình sự năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017.

[3] Hành vi các bị cáo thực hiện là nguy hiểm đối với xã hội, x m hại đ n quyền s hữu tài sản của người khác được pháp lu t bảo vệ. Các bị cáo là những thanh thi u niên trẻ tuổi nhưng không lo học t p, rèn luyện bản th n để tr thành công dân tốt mà theo lối sống tiêu cực; nhân thân các bị cáo đều không tốt, trong đó bị cáo K đã 02 lần bị xét xử về tội Trộm cắp t i sản. Do đó, cần phải có hình phạt nghiêm minh, cách ly các bị cáo khỏi xã hội một thời gian để răn đe, giáo d c và ph ng ngừa chung trong xã hội. Bị cáo K l người rủ rê, trực ti p vào lấy trộm tài sản, bán tài sản và chia tiền cho đồng bọn. Vì th vai tr , mức độ phạm tội của bị cáo K l cao hơn hai bị cáo c n lại. Ngo i ra, bị cáo K c n phải chịu tình ti t tăng nặng trách nhiệm hình sự l x i gi c người dưới 18 tuổi phạm tội. Tuy nhiên, xét các bị cáo đã th nh khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo M và P đã có tác động gia đình bồi thường thiệt hại cho người bị hại, người liên quan xong; bị cáo M và P còn được tình ti t giảm nhẹ l phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, đồng thời được áp d ng các quy định pháp lu t đối với người dưới 18 tuổi phạm tội. Vì v y, Hội đồng xét xử có xem xét giảm nhẹ hình phạt cho từng bị cáo.

[4] Về hình phạt bổ sung: Không áp d ng.

[5] Về trách nhiệm d n sự v xử lý v t chứng: Như đại diện Viện kiểm sát đề nghị là phù hợp, nên chấp nh n.

[6] Đối với bà Trần Thị Bích N có hành vi mua chi c xe đạp điện nhãn hiệu Hitasa và Phan Hữu T3 có h nh vi mua một bình điện của xe đạp điện nhãn hiệu Hitasa của Cao Thanh K, Đ m Văn M và Nguyễn Văn P, do bà N và ông T3 không bi t xe đạp điện và bình điện do K, M và P trộm cắp mà có nên không bị truy cứu trách nhiệm hình sự l phù hợp. [7] Về án phí hình sự sơ thảm: Mỗi bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm 200.000 đồng theo quy định pháp lu t.

Vì các lẽ trên, Hội đồng xét xử;

QUYẾT Đ NH:

Tuyên bố: Các bị cáo Cao Thanh K, Đ m Văn M và Nguyễn Văn P phạm tội “Trộm c p tài sản”.

1. Về trách nhiệm hình sự:

Áp d ng: khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm o khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 58; Điều 38; Điều 56 của Bộ lu t Hình sự năm 2015; sửa đổi bổ sung năm 2017;

Xử phạt bị cáo Cao Thanh K 01 (một) năm tù.

Tổng hợp với hình phạt 06 (sáu) tháng tù của Bản án hình sự sơ thẩm số 56/2023/HS-ST ng y 14 tháng 9 năm 2023 của Tòa án nhân dân qu n Thốt Nốt – th nh phố Cần Thơ, buộc bị cáo Cao Thanh K phải chấp hành hình phạt chung là 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ng y 20/7/2023.

+ Hình phạt bổ sung: Không áp d ng.

Áp d ng: khoản 1 Điều 173; điểm b, i, s khoản 1 Điều 51; Điều 91, Điều 101; Điều 17; Điều 58; Điều 38 của Bộ lu t Hình sự năm 2015; sửa đổi bổ sung năm 2017; đối với bị cáo Đ m Văn M bà bị cáo Nguyễn Văn P;

+ Xử phạt bị cáo Đàm Văn M 04 (bốn) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ng y chấp h nh hình phạt.

+ Hình phạt bổ sung: Không áp d ng.

+ Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn P 03 (ba) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ng y chấp h nh hình phạt.

+ Hình phạt bổ sung: Không áp d ng.

2. Về trách nhiệm dân sự v xử lý v t chứng:

Áp d ng Điều 47,48 của Bộ lu t Hình sự năm 2015; Điều 106 của Bộ lu t Tố t ng hình sự năm 2015.

+ Công nh n Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an qu n T đã xử lý v t chứng, trả lại cho Trần Tấn P2 01 chi c xe đạp điện nhãn hiệu Hitasa, m u xanh đen. Gia đình các bị cáo M và P đã cùng nhau mua bộ B1 xe đạp mới với giá 1.860.000 đồng để bồi thường cho Trần Tấn P2 xong. Người bị hại không có yêu cầu gì khác.

+ Công nh n gia đình các bị cáo M và P đã cùng nhau bồi thường cho bà Trần Thị Bích N số tiền bà mua chi c xe đạp điện l 650.000 đồng. Bà N không có yêu cầu gì khác.

3. Về án phí: Áp d ng Điều 136 của Bộ lu t Tố t ng hình sự năm 2015; Nghị quy t số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016;

Mỗi bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm 200.000 đồng (hai trăm ngàn đ ng).

5. Về kháng cáo: Bị cáo; người có quyền lợi v nghĩa v liên quan có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ng y kể từ ng y tuyên án. Đương sự vắng mặt tại phiên t a được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nh n được bản án hoặc bản án được niêm y t theo quy định pháp lu t.

Cỡ chữ