- Tranh chấp gì? án hình sự — "hình sự - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ Điều 584, Điều 589 Bộ luật dân sự, buộc bị cáo phải bồi thường cho bà Đỗ Thị T số tiền 32.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN LÊ CHÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 85/2023/HS-ST Ngày 29-6-2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN LÊ CHÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Ngô Thị Thùy Linh
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Phạm Thị Thanh Hiên
Ông Bùi Văn Dũng
Thư ký phiên toà: Bà Lưu Hoàng Hải Bình - Thư ký Toà án nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Lê Chân tham gia phiên toà: Bà Vũ Thị Giang - Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 6 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 71/2023/TLST-HS ngày 09 tháng 5 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 335/2023/QĐXXST-HS ngày 14 tháng 6 năm 2023 đối với bị cáo:
Thạch Thị Bích N, sinh ngày 31 tháng 8 năm 1983 tại h. Nơi đăng ký thường trú: Số 20 H, quận L, thành phố H; chỗ ở: Số 17/25/2 D, phường D, quận L thành phố H; nghề nghiệp: Tự do; trình độ văn hóa: Lớp 11/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Thạch Quang X và bà Nguyễn Thị N (đều đã chết); có chồng là Vũ Mạnh H và 02 con; tiền án, tiền sự: Không; bị bắt tạm giữ ngày 18/11/2022; tạm giam ngày 24/11/2022; có mặt.
Bị hại:
- Trần Thị Thúy N1, sinh năm 1973; địa chỉ: Số 13/25/2 D, phường D, quận L, H; vắng mặt;
- Bà Đỗ Thị T, sinh năm 1971; địa chỉ: Số 4B/330 T, phường V, quận L, thành phố H; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 16 giờ 00 phút, ngày 20/9/2022, anh Vũ Việt C, sinh năm 1973; chỗ ở: Số 13/25/2 D, phường D, quận Lê Chân, Hải Phòng đến công an phường D trình báo về việc gia đình anh bị mất số tiền 900 đô la Canada và 01 đồng hồ Michael Kors màu vàng. Tài sản trên là của chị Trần Thị Thúy N1, sinh năm 1973 là vợ anh C. Anh C giao nộp 01 USB có chứa đoạn video ghi lại hình ảnh 01 nữ giới mặc bộ quần áo dài tối màu, đội mũ lưỡi trai, đeo khẩu T đi vào khu vực nhà anh. Qua tìm hiểu, anh có nghi ngờ cho chị Thạch Thị Bích N là người đang Tê nhà trọ của anh ở số 17/25/2 D, phường D, quận Lê Chân, Hải Phòng. Biết hành vi trộm cắp của mình bị phát hiện nên ngày 17/11/2022, Thạch Thị Bích N đến công an phường D đầu thú về việc trộm cắp tài sản nhà anh C. Tại cơ quan điều tra N khai nhận, trong khoảng thời gian từ 19/6/2022 đến 25/7/2022, N đã thực hiện 3 vụ trộm cắp tài sản, cụ thể như sau:
Vụ thứ nhất:
Ngày 16/9/2022, N nhận được điện thoại của bạn là T (chưa xác định được lai lịch, địa chỉ) nói đang cần tiền trả nợ gấp. Do N đang Tê nhà của anh Vũ Việt C tại Số 17/25/2 D, phường D, quận Lê Chân, Hải Phòng nên N biết anh C hay để chìa khóa nhà ở kệ bếp. N chỉ cho T chỗ để chìa khóa và bảo T vào lấy tài sản mang bán lấy tiền trả nợ. Để tránh bị phát hiện, N đóng cửa phòng trọ đi ra đường Hồ Sen đợi T. Khoảng 1 tiếng sau T điều khiển xe đạp điện đi ra đường Hồ Sen đưa cho N số tài sản lấy trong nhà anh C gồm 01 phong bì bên trong có 900 đô la Canada và 01 đồng hồ Michael Kors màu vàng. N gọi điện cho Nguyễn Thị Phúc, sinh năm 1966; nơi cư trú: Phường Trại Chuối, quận Hồng Bàng, Hải Phòng và nhờ Phúc đi bán 900 đô la Canada được 15.500.000đ, Phúc đưa lại số tiền trên cho N và được N cho lại 1.500.000đ và chiếc đồng hồ Michael Kors màu vàng (do N mang đồng hồ đi bán, người mua chỉ trả 200.000đ nên N không bán). Sau đó, N đến khu vực chân cầu Tam Bạc và đưa cho T số tiền 14.000.000đ. T chia cho N 8.000.000đ và T giữ lại 6.000.000đ.
Tại cơ quan điều tra, Nguyễn Thị Phúc khai nhận: Khi được Thạch Thị Bích N nhờ bán 900 đô la Canada, Phúc có hỏi N “Tại sao không tự đem đi bán”, N trả lời “Việc em làm em không bán được, chị cứ bán đi đừng hỏi nữa”, Phúc thấy có bất thường trong lời nói của N nhưng do Phúc nghĩ N có nợ tiền cửa hàng mua bán vàng nên không dám vào bán, nên Phúc nhận lời bán đô la hộ N. Phúc không biết số tiền đô la Canada và chiếc đồng hồ Michael Kors màu vàng N cho Phúc là tài sản do N trộm cắp mà có.
Ngày 14/12/2022, Phúc giao nộp cho cơ quan điều tra chiếc đồng hồ nhãn hiệu Michael Kors màu vàng; ngày 22/11/2022, Phúc giao nộp số tiền 1.500.000đ.
Bản kết luận định giá tài sản số 15/KL-HĐĐGTS ngày 24/02/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự quận Lê Chân kết luận: 01 chiếc đồng hồ màu vàng bằng kim loại có chữ Michael Kors cũ, xây xước một vài chỗ trên mặt đồng hồ và dây có giá trị tương đương 2.000.000đ.
Bảng tỉ giá ngoại tệ ngày 16/9/2022 do Ngân hàng Nhà nước Việt Nam - chi nhánh Hải Phòng cung cấp: tỉ giá đô la Canada là 17.667,12 đồng/01 đô la. (quy đổi 900 đô la Canada tương đương 15.900.408đ).
Vụ thứ hai:
Khoảng 8 giờ ngày 18/7/2022, Thạch Thị Bích N đi đến ngõ 330 Thiên Lôi, phường Vĩnh Niệm, quận Lê Chân, Hải Phòng thấy bà Đỗ Thị K, sinh năm 1944; nơi cư trú: Số 4B/330 Thiên Lôi, phường Vĩnh Niệm, quận Lê Chân, Hải Phòng đang ngồi ăn sáng. Do N có quan hệ bạn bè từ trước với chị Nguyễn Thị T Hiền, sinh năm 1989, nơi cư trú: Miếu Hai Xã, Lê Chân, Hải Phòng là cháu ngoại bà K và đã nhiều lần vào nhà bà K chơi nên N đoán biết thời điểm đó nhà bà K mở cửa và không có ai trông nhà. N nảy sinh ý định trộm cắp tài sản. Thực hiện ý định trên, N đi vào nhà bà K rồi lên phòng ngủ của chị Đỗ Thị T, sinh năm 1971 (là con gái bà K) ở tầng 2 và tìm chìa khóa ở tủ bàn học. N mở ngăn tủ phía dưới thấy trong túi xách màu đen có nhiều xấp tiền mệnh giá 500.000đ, N lấy 40.000.000đ rồi cất túi xách màu đen vào chỗ cũ, khóa tủ lại, để chìa khóa về vị trí ban đầu và ra về.
Vụ thứ ba:
Ngày 25/7/2022, N đi qua ngõ 330 Thiên Lôi, phường Vĩnh Niệm, quận Lê Chân, Hải Phòng thì thấy bà Đỗ Thị K đang ngồi đầu ngõ, N lại nảy sinh ý định trộm cắp tài sản, N đi vào nhà bà K, lên phòng ngủ của chị Đỗ Thị T, ở tầng 2 và tìm chìa khóa ở tủ bàn học lấy 13.000.000đ sau đó cất chìa khóa lại chỗ cũ rồi đi về.
Ngoài ra, N khai: Khoảng 09 giờ ngày 01/8/2022, N đi qua nhà bà K thì thấy bà K ngồi ở đầu ngõ, N lại lẻn vào nhà bà K rồi đi lên tầng 2 lục lọi để trộm cắp tài sản nhưng chưa lấy được gì thì bà K đi về nhà. N sợ bị phát hiện nên chạy lên tầng 3 để trốn. Đến khoảng 13 giờ cùng ngày, chị Nguyễn Thị T T, sinh năm 1988, chỗ ở: Số 4B/330 Thiên Lôi, phường Vĩnh Niệm, Lê Chân, Hải Phòng (cháu ngoại bà K) thấy đồ đạc trong phòng có dấu hiệu bị lục lọi, chị T đi lên tầng 3 phát hiện N nấp sau cánh cửa phòng thờ nên gọi báo cho Công an phường Vĩnh Niệm đến đưa N về trụ sở để giải quyết.
Cùng ngày, chị Nguyễn Thị T T đã giao nộp 01 túi xách màu đen, kích 30x18cm, viền túi và tay cầm bằng kim loại màu sáng của chị Đỗ Thị T.
Quá trình điều tra, N giao nộp: 01 điện thoại di động Oppo màu xanh đã cũ, có Imel 1:868125042412979; Imel 2: 868125042412961.
Về trách nhiệm dân sự: Chị Trần Thị Thúy N1 không yêu cầu Thạch Thị Bích N phải bồi thường về dân sự. Trong quá trình điều tra, N đã tác động gia đình bồi thường cho bà Đỗ Thị T số tiền 20.500.000 đồng, bà T yêu cầu N phải bồi thường tiếp 32.500.000 đồng.
Tại bản Cáo trạng số 77/CT-VKSLC ngày 08/5/2023, Viện kiểm sát nhân dân quận Lê Chân đã truy tố Thạch Thị Bích N về tội trộm cắp tài sản quy định tại điểm c khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự.
Đối với Nguyễn Thị Phúc khi được Thạch Thị Bích N nhờ bán 900 đô la Canada và được N cho chiếc đồng hồ, Phúc không biết đó là tài sản do N phạm tội mà có, nên không đủ căn cứ để xử lý về hành vi tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có.
Đối với nữ giới tên T có dấu hiệu đồng phạm với Thạch Thị Bích N về hành vi trộm cắp tài sản ngày 16/9/2022, hiện chưa xác định được lai lịch, Cơ quan cảnh sát điều tra công an quận Lê Chân Hải Phòng đã ra quyết định số 13 ngày 14/4/2023 tách hành vi của T để tiếp tục xác minh, làm rõ.
Tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa, Thạch Thị Bích N khai nhận hành vi phạm tội như đã nêu trên, phù hợp với lời khai của bị hại và các tài liệu khác có trong hồ sơ.
Đại diện Viện Kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên quan điểm đã truy tố đối với bị cáo Thạch Thị Bích N và đề nghị Hội đồng xét xử:
Căn cứ vào điểm c khoản 2 Điều 173; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt Thạch Thị Bích N mức án từ 42 đến 48 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”.
Về hình phạt bổ sung: Do bị cáo không có nghề nghiệp và T nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Về trách nhiệm bồi thường thiệt hại: Bà Đỗ Thị T có yêu cầu bị cáo phải bồi thường số tiền 32.500.000 đồng nên cần buộc bị cáo phải bồi thường số tiền này cho bà T.
Về xử lý vật chứng: Vật chứng của vụ án là 01 chiếc điện thoại di động OPPO màu xanh đã cũ, số Imei 1: 868125042412979, Imei 2: 868125042412961 là tài sản riêng của bị cáo không liên quan đến hành vi phạm tội cần trả lại cho bị cáo.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và dân sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận Lê Chân, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân quận Lê Chân và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện là đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo, bị hại không có ý kiến hay khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về tội danh và điều luật áp dụng: Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, lời khai bị hại, vật chứng T giữ, kết luận định giá tài sản và các chứng cứ, tài liệu khác có trong hồ sơ thể hiện: Từ ngày 18/7/2022 đến ngày 16/9/2022 Thạch Thị Bích N đã 3 lần thực hiện hành vi lợi dụng sơ hở của chủ sở hữu, lén lút chiếm đoạt tổng số tài sản là 70.900.408 đồng. Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội Trộm cắp tài sản theo quy định tại Điều 173 Bộ luật hình sự.
Về tình tiết định khung: Tài sản bị cáo chiếm đoạt của các chủ sở hữu có tổng giá trị là 70.900.408 đồng nên bị cáo phải chịu tình tiết định khung quy định tại điểm c khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự. Việc truy tố của Viện kiểm sát nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng đối với bị cáo Thạch Thị Bích N về tội danh và điều luật áp dụng là có cơ sở và đúng quy định của pháp luật.
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ, gây mất trị an xã hội nên cần phải xử lý bằng bản án nghiêm, bắt cách ly xã hội một thời gian để răn đe bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo ba lần thực hiện hành vi phạm tội, mỗi hành vi đều đủ yếu tố cấu thành tội Trộm cắp tài sản nên bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng phạm tội 02 lần trở lên theo quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Nhân thân bị cáo chưa có tiền án, tiền sự. Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự; bị cáo tác động gia đình bồi thường một phần thiệt hại cho bị hại; sau khi phạm tội đã ra đầu thú nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ tại các điểm b khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Về hình phạt áp dụng đối với bị cáo: Căn cứ tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo là người có đầy đủ năng lực hành vi, nhận thức rõ hành vi trộm cắp là vi phạm đạo đức xã hội, vi phạm pháp luật mà vẫn cố tình phạm tội. Do đó cần xử phạt bị cáo trên mức khởi điểm của khung hình phạt quy định tại khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự mới đủ tác dụng cải tạo bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung.
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại là chị Trần Thị Thúy N1 không yêu cầu bị cáo bồi thường nên không xem xét. Tài sản bị cáo chiếm đoạt của bà Đỗ Thị T là 53.000.000đ, bị cáo đã tác động gia đình bồi thường cho bà T số tiền 20.500.000đ . Bà Đỗ Thị T yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền còn lại là 32.500.000 đồng nên cần buộc bị cáo phải bồi thường cho bà T số tiền này.
Về xử lý vật chứng: 01 chiếc điện thoại di động OPPO màu xanh đã cũ, số Imei 1: 868125042412979, Imei 2: 868125042412961 là tài sản riêng của bị cáo không liên quan đến hành vi phạm tội cần trả lại cho bị cáo.
Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 173 Bộ luật hình sự thì bị cáo có thể bị phạt bổ sung là phạt tiền. Tuy nhiên xét bị cáo không có nghề nghiệp và T nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm c khoản 2 Điều 173; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt: Thạch Thị Bích N 42 (bốn mươi hai) tháng tù về tội Trộm cắp tài sản. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ 18 tháng 11 năm 2022.
Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ Điều 584, Điều 589 Bộ luật dân sự, buộc bị cáo phải bồi thường cho bà Đỗ Thị T số tiền 32.500.000 đ (ba mươi hai triệu năm trăm nghìn đồng).
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 357, Điều 468 Bộ luật dân sự tương ứng với thời gian chưa thi hành án.
Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Trả lại bị cáo 01 01 chiếc điện thoại di động OPPO màu xanh đã cũ, số Imei 1: 868125042412979, Imei 2: 868125042412961 (Theo biên bản giao nhận đồ vật, tài liệu vật chứng ngày 09/5/2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Lê Chân).
Về án phí: Căn cứ Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức T, miễn, giảm, T, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án, buộc bị cáo phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm và 1.625.000đ (một triệu sáu trăm hai mươi lăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; bị hại được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.
Trường hợp bản án được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả Tận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - Bị cáo; - Bị hại; - VKSND thành phố; - VKSND quận Lê Chân; - Công an quận Lê Chân; - Phòng PV06; PC10; - THA hình sự; - Chi cục THADS quận Lê Chân; - Sở tư pháp; - UBND nơi bị cáo cư trú; - Lưu: HS, VT. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Ngô Thị Thùy Linh |