vanban.org

Bản án 85/2023/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Hữu Lũng, tỉnh Lạng Sơn Tuyên án 18/09/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tội danh và hình phạt.

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thông H phạm tội Cố ý gây tổn hại cho sức khỏe của người khác. Xử phạt bị cáo Nguyễn Thông H 06 (sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt đi thi hành án. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyen thong H - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của…"
  • Tòa quyết gì? Tội danh và hình phạt.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 134 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN HỮU LŨNG
TỈNH LẠNG SƠN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 85/2023/HS-ST
Ngày 18-9-2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HỮU LŨNG, TỈNH LẠNG SƠN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Mạnh Cường.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Quang Hưng;

Ông Lý Hoàng Anh.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Đạt - Thẩm tra viên Tòa án nhân dân huyện Hữu Lũng, tỉnh Lạng Sơn.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hữu Lũng, tỉnh Lạng Sơn tham gia phiên tòa: Ông Mã Anh Tuấn - Kiểm sát viên.

Ngày 18 tháng 9 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hữu Lũng, tỉnh Lạng Sơn xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 81/2023/TLST-HS ngày 29 tháng 8 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 83/2023/QĐXXST-HS ngày 05 tháng 9 năm 2023, đối với bị cáo:

Nguyễn Thông H (tên gọi khác: Không có), sinh ngày 30 tháng 5 năm 1964 tại huyện T, thành phố Hà Nội. Nơi cư trú: Thôn Đ, xã H, huyệ n H, tỉnh Lạng Sơn; nghề nghiệp: Làm ruộng; trình độ học vấn: Lớp 03/10; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Thông H1 (đã chết) và bà Nguyễn Thị T (đã chết); vợ: Nguyễn Thị Đ, sinh năm 1964, con: Có 02 con, lớn sinh năm 1988, nhỏ sinh năm 1990; tiền án, tiền sự: Không có; Nhân thân: Chưa từng bị xử phạt vi phạm hành chính, xử lý kỷ luật; bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 19/4/2023 đến nay. Có mặt.

- Bị hại:

1. Ông Nguyễn Văn H2, sinh năm 1971. Có mặt.

2. Bà Lục Thị H3, sinh năm 1980. Có mặt.

Cùng địa chỉ: Thôn Đ, xã H, huyện H, tỉnh Lạng Sơn.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Thông H là anh trai ruột của Nguyễn Văn H2 (có vợ là Lục Thị H3), hai anh em được bố mẹ chia đất cho ở gần nhau. Hàng ngày gia đình anh H2 (gồm vợ và 03 người con) sử dụng nguồn nước sinh hoạt lấy từ giếng khơi của gia đình (đào từ năm 1997), giếng có đường kính 1,04m, độ sâu khoảng 07m, trong giếng chứa khoảng 2,18m3 nước, mặt nước cách miệng giếng khoảng 4,24m.

Do có mâu thuẫn từ trước trong việc tranh chấp đất đai và việc vợ chồng em trai phun thuốc diệt cỏ quanh khu vực đất nhà của bị cáo đã nhiều năm, mặc dù đã nói nhiều lần nhưng không có kết quả nên bị cáo đã nảy sinh ý định đổ thuốc trừ sâu xuống giếng khơi, để gia đình anh H2 sử dụng nước sẽ bị ảnh hưởng tới sức khỏe.

Khoảng hơn 13 giờ ngày 18/11/2022, Nguyễn Thông H sau khi đưa cháu đi học, quay về thấy gia đình anh H2, chị H3 không có người ở nhà, nên đã lấy chai thuốc trừ sâu cao cấp ARRIVO 25EC tên thường gọi ASHER USA thể tích 100ml của gia đình đã qua sử dụng, trong chai còn lại khoảng 02ml dung dịch thuốc trừ sâu (1/50 chai) treo ở cây gần giếng nước của nhà, mang sang nhà anh H2 đổ xuống giếng; đổ xong, bị cáo vặn nắp lại rồi vứt vỏ chai sang vườn nhà chị Nguyễn Thị T gần đó rồi đi về nhà.

Đến khoảng hơn 15 giờ cùng ngày, Nguyễn Thông H nghĩ lượng thuốc trừ sâu đổ xuống giếng quá ít không gây ảnh hưởng đến sức khỏe nên đã tiếp tục lấy chai thuốc trừ sâu có chữ Trung Quốc thể tích 20ml đã qua sử dụng, trong chai còn khoảng 05ml dung dịch (1/4 chai) đến đổ toàn bộ xuống giếng; đổ xong, bị cáo cầm vỏ chai mang về nhà cất vào trong lỗ viên cay tường bao gần chuồng trâu.

Khoảng 17 giờ 30 phút cùng ngày, chị Lục Thị H3 đi làm về múc nước từ giếng khơi lên để nấu cơm như thường ngày thì phát hiện nước giếng có mùi bất thường nên không sử dụng; nghi ngờ có người đổ thuốc sâu xuống giếng nên đã trình báo Công an xã H. Quá trình điều tra xác minh, ngày 18/11/2022 và ngày 19/12/2022, cơ quan điều tra đã thu giữ mẫu nước trong giếng khơi của gia đình anh Nguyễn Văn H2, vỏ chai do Nguyễn Thông H giao nộp và vỏ chai phát hiện tại vườn nhà chị Nguyễn Thị T để mang đi giám định.

Tại bản kết luận giám định số 8935/KL-KTHS ngày 30/12/2022 của Viện khoa học hình sự Bộ Công an kết luận: Trong nước giếng gia đình chị Lục Thị H3 tìm thấy chất pyridaben và cypermethrin:

- Mẫu nước giếng thu ngày 18/11/2022 có nồng độ pyridaben là 3,28 ng/l (0,00000328 mg/l) và nồng độ cypermethrin là 21,64 μg/l (0,02164 mg/l).

Mẫu nước giếng thu ngày 19/12/2022 có nồng độ pyridaben là 1,44 ng/l (0,00000144 mg/l) và nồng độ cypermethrin là 7,28 μg/l (0,0728 mg/l).

- Vỏ chai nhựa có nhãn ghi “THUỐC TRỪ SÂU CAO CẤP ARRIVO 25EC” do Lục Thị H3 tìm thấy, giao nộp có tìm thấy cypermethrin.

Vỏ chai nhựa có nhãn ghi chữ nước ngoài do Nguyễn Thông H giao nộp có tìm thấy pyridaben.

- Pyridaben và cypermethrin là chất độc hại đối với con người. Hiện tại, chưa thấy có tài liệu khoa học nào công bố liều độc, liều gây chết cụ thể của pyridaben và cypermethrin đối với cơ thể con người. Pyridaben là thuốc trừ sâu, có liều gây chết trung bình (LD50) đối với chuột qua đường miệng là 820 – 1350 mg/kg thể trọng; Cypermethrin là thuốc trừ sâu, có liều gây chết trung bình (LD50) đối với chuột qua đường miệng là 250 – 4150 mg/kg thể trọng).

Tại bản kết luận định giá tài sản số 04 ngày 13/02/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện H kết luận: Tại thời điểm ngày 18/11/2022 giếng khơi của gia đình anh Nguyễn Văn H2 trị giá 2.513.620 đồng.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Thông H thừa nhận hành vi phạm tội của bản thân như cáo trạng đã truy tố, nhưng không đồng ý bồ i thườ ng tổng số tiền 57.513.620 đồng theo yêu cầu bồi thường của anh Nguyễn Văn H2, chị Lục Thị H3; chỉ đồng ý bồi thường 10.000.000đ và có thể bồi thường thêm theo quyết định của Tòa án.

Tại bản Cáo trạng số: 81/CT-VKS ngày 28/8/2023, của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hữu Lũng đã truy tố Nguyễn Thông H về tội Cố ý gây tổn hại cho sức khỏe của người khác, theo quy định tại khoản 6 Điều 134 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, trong phần tranh luận, đại điện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hữu Lũng giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

Căn cứ khoản 6 Điều 134; điểm i, s khoản 1 Điều 51; điểm n khoản 1 Điều 52; các Điều 14, 38, 50 của Bộ luật Hình sự, tuyên bố Nguyễn Thông H phạm tội Cố ý gây tổn hại cho sức khỏe của người khác, xử phạt bị cáo từ 06 tháng đến 09 tháng tù.

Căn cứ Điều 48 Bộ luật Hình sự; các Điều 584, 585, 586, 590 Bộ luật Dân sự, công nhận sự thỏa thuận về việc Nguyễn Thông H phải bồi thường cho các bị hại tổng số tiền 26.000.000 đồng. Căn cứ khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự, khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu, tiêu hủy 04 vỏ chai đựng thuốc trừ sâu. Buộc bị cáo phải chịu án phí theo quy định.

Bị cáo không có ý kiến đối đáp, tranh luận.

Lời nói sau cùng, bị cáo đã nhận thức được hành vi của bản thân là sai trái, vi phạm pháp luật và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, để bị cáo sớm được trở về với gia đình và xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Hữu Lũng, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Hữu Lũng, Kiểm sát viên: Trong quá trình điều tra, truy tố, cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự về thẩm quyền, trình tự, thủ tục tố tụng. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, những người tham gia tố tụng không có khiếu nại đối với quyết định, hành vi của người tiến hành tố tụng, cơ quan tiến hành tố tụng nên các quyết định, hành vi tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.

Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, Nguyễn Thông H đã thừa nhận hành vi phạm tội của bản thân. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại và các kết luận giám định, vật chứng thu giữ, đồng thời hoàn toàn phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa; Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để xác định: Do có mâu thuẫn, xích mích từ trước trong việc tranh chấp đất đai, phun thuốc diệt cỏ; nên vào chiều ngày 18/11/2022, Nguyễn Thông H đã thực hiện hành vi đổ thuốc trừ sâu (khoảng 02ml dung dịch có chứa chất cypermethrin và khoảng 05ml dung dịch có chứa chất pyridaben) là hóa chất nguy hiểm, chất độc hại đối với sức khỏe con người xuống giếng nước sinh hoạ t của gia đình anh Nguyễn Văn H2, chị Lục Thị H3 nhằ m mụ c đí ch để khi sử dụng sẽ bị tổn hại đến sức khỏe.

Do phát hiện nước giếng có mùi lạ anh Nguyễn Văn H2, chị Lục Thị H3 không sử dụ ng , nên chưa gây tổn hại trực tiếp đến sức khỏe. Hành vi của Nguyễn Thông H gây nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền công dân được pháp luật Nhà nước bảo hộ về sức khỏe, xâm phạm đến trật tự an toàn xã hội. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi đổ thuốc trừ sâu xuống giếng khơi là nguồn nước sinh hoạt duy nhất của các bị hại nhằm gây tổn hại đến sức khỏe của người khác là vi phạm pháp luật nhưng vẫn thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp. Đảm bảo căn cứ kết luận hành vi của bị cáo đã cấu thành tội Cố ý gây tổn hại cho sức khỏe của người khác theo quy định tại khoản 6 Điều 134 của Bộ luật Hình sự. Bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hữu Lũng đã truy tố có căn cứ, đúng người, đúng tội.

“Điều 134. Tội cố ý gây tổn hại đến sức khỏe của người khác

…6. Người nào chuẩn bị vũ khí, vật liệu nổ, hung khí nguy hiểm, a-xít nguy hiểm, hóa chất nguy hiểm hoặc thành lập hoặc tham gia nhóm tội phạm nhằm gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 02 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm.”

Để quyết định hình phạt, ngoài việc xem xét, đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, cần phải xem xét đến nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự.

Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân tốt chưa có tiền án, tiền sự, chưa từng bị xử phạt vi phạm hành chính, xử lý kỷ luật.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo đổ hóa chất nguy hiểm xuống giếng nước khơi là thủ đoạn có thể gây nguy hại cho nhiều người trong gia đình các bị hại khi sử dụng nguồn nước sinh hoạt chung nên phải chịu tình tiết quy định tại điểm n khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa xác định bị cáo đã có hai lần đổ thuốc trừ sâu xuống giếng (lần thứ nhất vào khoảng hơn 13 giờ, lần thứ hai vào khoảng 15 giờ cùng buổi chiều ngày 18/11/2022), tuy nhiên lần đổ thuốc đầu tiên với liều lượng rất ít (2ml) và gia đình anh Nguyễn Văn H2 không có mặt ở nhà nên chưa sử dụng nước giếng, chưa có khả năng bị ảnh hưởng đến sức khỏe, hậu quả chưa xảy ra. Thời gian giữa hai lần đổ thuốc trừ sâu gần nhau, ý thức chủ quan của bị cáo xác định do lần 01 đổ lượng thuốc quá ít nên đổ thêm; hơn nữa hành vi phạm tội trong giai đoạn chuẩn bị nên chưa hoàn toàn đủ căn cứ xác định bị cáo phạm tội 02 lần.

Hiện nay gia đình anh Nguyễn Văn H2, chị Lục Thị H3 có 05 nhân khẩu gồm: 02 vợ chồng và 03 người con (gồm Nguyễn Thị H sinh năm 2004, Nguyễn Thị T1 sinh năm 2006 và Nguyễn Minh H sinh năm 2008). Quá trình điều tra và tại phiên tòa đã làm rõ, động cơ, mục đích phạm tội của bị cáo Nguyễn Thông H chỉ nhằm gây tổn hại đến sức khỏe của vợ chồng người em trai do có xích mích, tranh chấp chứ không có động cơ gây hại với các cháu; các cháu Nguyễn Thị H, Nguyễn Thị T1 và Nguyễn Minh H cũng chưa sử dụng nước giếng, chưa bị tổn hại đến sức khỏe nên cơ quan tiến hành tố tụng không xác định tư cách bị hại là có căn cứ, phù hợp quy định của pháp luật.

Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo phạm tội lần đầu (chưa có tiền án, tiền sự) và thuộ c trườ ng hợ p phạm tội ít nghiêm trọng(khung hình phạt cao nhất đến 02 năm tù) nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Quá trình điều tra, bị cáo đề nghị được bồi thường 10.000.000 đồng, nhưng do bị hại không đồng ý nên bị cáo chưa thực hiện được; tại phiên tòa bị cáo đã thiện chí cùng bị hại gác lại mâu thuẫn, thống nhất thỏa thuận bồi thường toàn bộ theo yêu cầu, phù hợp chi phí thực tế, trong khi gia đình có hoàn cảnh khó khăn; do vậy Hội đồng xét xử cho bị cáo hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ theo quy định khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự

Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo tuy chưa gây ra hậu quả, tổn hại sức khỏe, tính mạng nghiêm trọng nhưng về bản chất là hành vi rất nguy hiểm có khả năng dẫn đến thương tật nặng nề, thậm chí gây nguy hiểm đến tính mạng. Bị cáo có 01 tình tiết tăng nặng, có 03 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và có nhân thân tốt. Bản thân tuổi đã cao (59 tuổi), trình độ văn hóa thấp (03/10) nên hiểu biết pháp luật có phần bị hạn chế; bệnh tật (bị thoái hóa đốt sống cổ, sơ gan); là trụ cột trong gia đình chăm sóc vợ bị suy thận (có xác nhận của thôn ngày 15/9/2023). Hội đồng xét xử quyết định áp dụng hình phạt tù, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội trong một thời gian ngắn nhất định, gần với mức khởi điểm của khung hình phạt đủ để bị cáo có thời gian học tập, lao động, cải tạo, tu dưỡng bản thân trở thành người có ích cho gia đình và xã hội, đồng thời đảm bảo nguyên tắc áp dụng pháp luật và mục đích của hình phạt nhằm răn đe, giáo dục, phòng ngừa chung.

Về nghĩa vụ dân sự: Căn cứ quy định tại các Điều Điều 584, 585, 586, 590 của Bộ luật Dân sự, hướng dẫn tại Nghị quyết 02/2022/NQ-HĐTP của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng pháp luật về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, Hội đồng xét xử xem xét mức yêu cầu bồi thường tổn hại về sức khỏe của bị hại với số tiền 57.513.620 đồng (gồm các khoản tiền chi phí khoan giếng 18.000.000 đồng, mua máy lọc nước 5.000.000 đồng, trị giá giếng khơi bị hỏng 2.513.620 đồng, tổn thất tinh thần 32.000.000 đồng) là cao so với các thiệt hại thực tế, cụ thể các khoản có thể được chấp nhận gồm:

Khoản chi phí khoan giếng, lắp đặt máy bơm, xây bệ giếng hết 18.000.000 đồng là phù hợp chi phí thực tế tại địa phương nên được chấp nhận. Đối với khoản bồi thường tổn thất tinh thần, theo quy định tại Điều 590 Bộ luật Dân sự, mức bù đắp tổn thất về tinh thần do các bên thỏa thuận, nếu không thỏa thuận được thì mức tối đa cho một người có sức khỏe bị xâm phạm không quá 50 lần mức lương cơ sở do Nhà nước quy định. Hiện nay, mức lương cơ sở theo Nghị quyết số 69/2022/QH15 ngày 11/11/2022 của Quốc hội quy định là 1.800.000 đồng/tháng. Nhận thấy, anh Nguyễn Văn H2 và chị Lục Thị H3 mặc dù chưa sử dụng nước giếng bị đổ thuốc trừ sâu, chưa bị ảnh hưởng đến sức khỏe trên thực tế, tuy nhiên sau khi sự việc phạm tội xảy ra, cũng phần nào khiến gia đình bị hại hoang mang, lo lắng, ảnh hưởng đến tinh thần; do vậy, Hội đồng xét xử xem xét mức bồi thường tổn thất tinh thần khoảng 04 tháng lương cơ sở x 1.800.000 đồng/tháng = 7.200.000 đồng.

Thời gian từ khi sự việc bị phát hiện đến khi có giếng khoan mới là 01 tháng, gia đình bị hại phải đi xin nước, gánh nước về sử dụng gây tổn thất thời gian, công sức lao động; đây là chi phí thực tế cần được tính bổ sung thêm cho bị hại tương ứng một khoản tiền là phù hợp. Đối với khoản yêu cầu bồi thường trị giá giếng bị hỏng 2.513.620 đồng và mua máy lọc nước 5.000.000 đồng là không có căn cứ chấp nhận bởi đã được xem xét trong chi phí làm giếng mới, không phải là thiệt hại thực tế do hành vi phạm tội gây ra.

Tại phiên tòa, bị cáo và các bị hại đã thỏa thuận, theo đó số tiền phải bồi thường tổn hại sức khỏe là 26.000.000 đồng; xét thấy thỏa thuận này là tự nguyện và phù hợp quy định pháp luật, các khoản chi phí hợp lý, thực tế theo các phân tích nêu trên, nên được Hội đồng xét xử công nhận.

Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy đối với 04 vỏ chai đựng thuốc trừ sâu đã thu giữ là công cụ, phương tiện phạm tội, không còn giá trị sử dụng.

Bị cáo là người bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm, án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch tương ứng số tiền phải bồi thường cho bị hại theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23, Điều 26, 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

Đề nghị giảm nhẹ hình phạt trong lời nói sau cùng của các bị cáo đã được Hội đồng xét xử xem xét, cân nhắc trong quá trình nghị án. Đề nghị luận tội và các căn cứ áp dụng, xử lý các vấn đề liên quan của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hữu Lũng, tỉnh Lạng Sơn phù hợp với các nhận định nêu trên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo phần bản án liên quan theo quy định tại các Điều 331, 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 6 Điều 134; các điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm n khoản 1 Điều 52; các Điều 14, Điều 38, Điều 50, điểm a khoản 1 Điều 47, Điều 48 của Bộ luật Hình sự;

Căn cứ khoản 5 Điều 275, Điều 357, khoản 2 Điều 468, Điều 584, 585, 586, 587 và Điều 590 của Bộ luật Dân sự;

Căn cứ Điều 5 Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a khoản 2 Điều 106; khoản 2 Điều 136; Điều 292; Điều 293; Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự;

Căn cứ vào điểm a, c khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Tội danh và hình phạt.

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thông H phạm tội Cố ý gây tổn hại cho sức khỏe của người khác.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Thông H 06 (sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt đi thi hành án.

2. Nghĩa vụ dân sự.

Công nhận thỏa thuận tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Thông H có nghĩa vụ bồi thường tổn hại do sức khỏe bị xâm phạm cho anh Nguyễn Văn H2, chị Lục Thị H3 tổng số tiền 26.000.000đ (hai mươi sáu triệu đồng).

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật mà bên được thi hành có đơn yêu cầu thi hành án, nếu bên phải thi hành không chịu trả hoặc chậm trả số tiền nêu trên, thì hàng tháng phải trả lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả; lãi suất phát sinh do chậm trả tiền được xác định theo thỏa thuận của các bên nhưng không được vượt quá 20%/năm của khoản tiền phải thi hành theo quy định tại khoản 1 Điều 468 Bộ luật dân sự, trường hợp không thỏa thuận được và có tranh chấp thì được xác định bằng 50% mức lãi suất giới hạn theo quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự.

3. Xử lý vật chứng.

Tịch thu tiêu hủy 01 hộp giấy dán kín, niêm phong bởi các dấu đỏ của Viện Khoa học hình sự và các chữ ký ghi rõ họ tên của Nguyễn Thu H, Ngô Đắc T, Vương Trung K; bên trong có 04 vỏ chai gồm:

- 01 vỏ chai nhựa có dán chữ “THUỐC TRỪ SÂU CAO CẤP ARRIVO” tên thường gọi SHER USA, thể tích 100ml;

- 01 vỏ chai nhựa dạng hình trụ, đường kính 2,2 cm, có nắp màu trắng, loại nắp vặn xoắn, tổng chiều dài cả nắp là 07 cm, trên thân chai có nhãn dán ghi các chữ nước ngoài, thể tích 20ml;

- 01 vỏ chai nhựa màu trắng, nắp màu đỏ, bên ngoài dán nhãn ghi chữ “THUỐC TRỪ SÂU SIEEUSAO 40EC”, tổng chiều dài 09 cm, đường kính 05 cm.

- 01 vỏ chai nhựa màu trắng, nắp màu đỏ, bên ngoài dán nhãn ghi chữ “CHẾ PHẨM DIỆT CÔN TRÙNG BP”, tổng chiều dài 09 cm, đường kính 05 cm.

(Vật chứng hiện đang lưu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hữu Lũng, theo Biên bản giao, nhận vật chứng ngày 29 tháng 8 năm 2023).

4. Án phí: Bị cáo Nguyễn Thông H phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm và 1.300.000đ (một triệu ba trăm nghìn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch để nộp ngân sách Nhà nước.

5. Quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ