vanban.org

Bản án 85/2023/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Bến Cầu, tỉnh Tây Ninh Tuyên án 21/09/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Hải L phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt Nguyễn Hải L 06 (sáu) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 21 tháng 6 năm 2023. Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ 587, 589 của Bộ luật Dân sự và Điều 48 của Bộ luật Hình sự. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Hai L phạm tội "Trộm cắp tài sản" - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Hải L phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN BẾN CẦU
TỈNH TÂY NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 85/2023/HS-ST
Ngày 21-9-2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẾN CẦU – TỈNH TÂY NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Tiến Danh.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Văn Còn;

2. Ông Lê Văn Rẽn.

- Thư ký phiên tòa: Ông Đỗ Cao Cường - Thư ký Toà án nhân dân huyện Bến Cầu, tỉnh Tây Ninh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bến Cầu, tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa: Ông Hồ Sơn Tuấn - Kiểm sát viên.

Ngày 21 tháng 9 năm 2023, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bến Cầu, tỉnh Tây Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 85/2023/TLST-HS ngày 29 tháng 8 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 84/2023/QĐXXST-HS ngày 08 tháng 9 năm 2023 đối với bị cáo:

Nguyễn Hải L, sinh ngày 16/8/2000 tại tỉnh An Giang. Nơi cư trú và chỗ ở hiện nay: Ấp X, xã Y, huyện Bến Cầu, tỉnh Tây Ninh; nghề nghiệp: không có; trình độ học vấn: 08/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn G và bà Nguyễn Thị T; vợ, con: chưa có; tiền án: Ngày 24/4/2020, Tòa án nhân dân huyện Bến Cầu, tỉnh Tây Ninh xử phạt 02 năm về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, chấp hành xong ngày 17/10/2021; tiền sự: Ngày 02/02/2023, bị Công an thị trấn Bến Cầu, huyện Bến Cầu, tỉnh Tây Ninh xử phạt vi phạm hành chính số tiền 1.500.000 đồng về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy”, đã nộp phạt xong ngày 07/02/2023. Bị cáo bị tạm giam từ ngày 21/6/2023 cho đến nay. “có mặt”

Bị hại: Bà Phạm Thị Hồng T, sinh năm 1975.

Địa chỉ: Số M, đường N, phường O, quận Gò Vấp, thành phố Hồ Chí Minh. “vắng mặt”

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào ngày 23/3/2023, bà Phạm Thị Hồng T, sinh năm 1975, ngụ số M, đường M, phường O, quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh đến Công an huyện Bến Cầu, tỉnh Tây Ninh trình báo bà bị mất tài sản gồm: 01 hệ thống lọc nước tinh khiết công suất 1.500l/h, 01 máy ép hơi nước và 01 giàn máy đóng nút chai để tại nhà máy nước khoáng W thuộc khu vực ấp X1, xã Y, huyện Bến Cầu, tỉnh Tây Ninh.

Qua điều tra, xác minh Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Bến Cầu, tỉnh Tây Ninh xác định Nguyễn Hải L là người lấy trộm tài sản của bà T nên triệu tập làm việc và L thừa nhận: Do không có tiền tiêu xài nên vào khoảng 19 giờ 00 phút ngày 20/3/2023, biết nhà máy nước khoáng W của bà T không người giữ tài sản nên L đến đột nhập lấy trộm 01 hệ thống lọc nước tinh khiết công suất 1.500l/h, 01 máy ép hơi nước và 01 giàn máy đóng nút chai, sau đó thuê người đàn ông (không rõ lai lịch) điều khiển xe tải không biển số chở đến quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh bán cho người đàn ông thu mua đồ cũ (không rõ lai lịch và địa chỉ) được 39.000.000 đồng, L trả tiền thuê xe tải 2.500.000 đồng, còn lại 26.500.000 đồng tiêu xài cá nhân.

Kết luận định giá tài sản số 08/KL-HĐĐGTTHS ngày 05/7/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Bến Cầu, tỉnh Tây Ninh kết luận: 01 (một) hệ thống lọc nước tinh khiết, nhãn hiệu Tân Việt Mỹ, công suất 1.500l/h, đã qua sử dụng tại thời điểm ngày 20/3/2023 có trị giá 175.500.000 đồng. Riêng 01 máy ép hơi nước và 01 giàn máy đóng nút chai do tài sản không thu hồi được và là một bộ phận cấu thành nên dây chuyền sản xuất không bán phổ biến ngoài thị trường, không có tài liệu, hồ sơ T quan để xác định giá trị của tài sản nên Hội đồng định giá không xác định giá trị được.

Kết quả thu giữ và xử lý vật chứng: không có.

Trách nhiệm dân sự: Bà Phạm Thị Hồng T yêu cầu bị cáo Nguyễn Hải L bồi thường 175.500.000 đồng, bị cáo chưa bồi thường.

Nguyễn Hải L không có tài sản nên không kê biên.

Tại phiên toà, bị cáo Nguyễn Hải L đã khai nhận hành vi phạm tội của mình, vật chứng bị thu giữ như nội dung bản Cáo trạng đã nêu.

Quá trình làm việc, bà Phạm Thị Hồng T đã khai:

- Về trách nhiệm hình sự: Bà T đề nghị giải quyết theo quy định pháp luật.

- Về trách nhiệm dân sự: Bà T yêu cầu bị cáo L bồi thường số tiền 175.500.000 đồng theo kết quả định giá, ngoài ra không yêu cầu bồi thường gì khác.

Tại bản Cáo trạng số: 86/CT-VKSBC ngày 28 tháng 8 năm 2023, Viện kiểm sát nhân dân huyện Bến Cầu, tỉnh Tây Ninh đã truy tố bị cáo Nguyễn Hải L về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm c khoản 2 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bến Cầu, tỉnh Tây Ninh vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng như nội dung bản Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Hải L từ 06 (sáu) năm đến 07 (bảy) năm tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung.

Về trách nhiệm dân sự: Ghi nhận bị cáo L đồng ý bồi thường số tiền 175.500.000 đồng cho bà Phạm Thị Hồng T.

Tại phiên toà hôm nay: Bị cáo L thống nhất với bản luận tội của Kiểm sát viên, không có ý kiến tranh luận, bào chữa.

Bị cáo L nói lời sau cùng: Bị cáo ăn năn về hành vi của mình và xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để sớm trở về chăm sóc cha mẹ.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Bến Cầu, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Bến Cầu, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục qui định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về hành vi của bị cáo thể hiện: Do không có tiền tiêu xài nên vào khoảng 19 giờ 00 phút ngày 20/3/2023, bị cáo Nguyễn Hải L biết nhà máy nước khoáng W của bà Phạm Thị Hồng T thuộc ấp X1, xã Y, huyện Bến Cầu, tỉnh Tây Ninh không có người giữ tài sản nên bị cáo đột nhập vào, lấy trộm 01 hệ thống lọc nước tinh khiết công suất 1.500l/h, 01 máy ép hơi nước và 01 giàn máy đóng nút chai. Sau khi trộm được, bị cáo L mang đến Thành phố Hồ Chí Minh bán được 39.000.000 đồng, trả tiền thuê xe tải 2.500.000 đồng, còn lại 26.500.000 đồng tiêu xài cá nhân.

Kết luận định giá tài sản số 08/KL-HĐĐGTTHS ngày 05/7/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Bến Cầu, tỉnh Tây Ninh kết luận: 01 (một) hệ thống lọc nước tinh khiết, nhãn hiệu Tân Việt Mỹ, công suất 1.500l/h, đã qua sử dụng tại thời điểm ngày 20/3/2023 có trị giá 175.500.000 đồng. Riêng 01 máy ép hơi nước và 01 giàn máy đóng nút chai do tài sản không thu hồi được và là một bộ phận cấu thành nên dây chuyền sản xuất không bán phổ biến ngoài thị trường, không có tài liệu, hồ sơ T quan để xác định giá trị của tài sản nên Hội đồng định giá không xác định giá trị được. Bị cáo L và bà T thống nhất với kết quả định giá, không có ý kiến gì khác.

Lời khai của bị cáo L phù hợp với các lời khai tại Cơ quan điều tra, phù hợp với các lời khai của bị hại, người làm chứng, biên bản khám nghiệm hiện trường, bản ảnh hiện trường cùng các chứng cứ, tài liệu khác trong hồ sơ vụ án. Do đó, có đủ căn cứ kết luận hành vi của bị cáo Nguyễn Hải L đã phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo qui định tại điểm c khoản 2 Điều 173 của Bộ luật Hình sự, như luận tội của Kiểm sát viên tại phiên tòa là có căn cứ.

Vụ án mang tính chất nghiêm trọng. Hành vi nêu trên của bị cáo L là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác, gây mất an ninh trật tự tại địa phương. Bản thân bị cáo nhận thức được hành vi trộm cắp tài sản của người khác là hành vi vi phạm pháp luật, nhưng vì mục đích tư lợi cá nhân, muốn có tiền một cách nhanh chóng để phục vụ cho tiêu xài của bản thân mà không cần phải bỏ mồ hôi công sức, bị cáo đã bất chấp pháp luật thực hiện hành vi trộm cắp tài sản. Do đó cần áp dụng mức hình phạt tương xứng với tính chất và mức độ hành vi phạm tội của bị cáo để giáo dục răn đe và phòng ngừa tội phạm.

Khi quyết định hình phạt, có xem xét tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo L.

Tình tiết tăng nặng: Bị cáo đã bị kết án, chưa được xóa án tích mà lại tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội do lỗi cố ý nên lần phạm tội này là tái phạm, tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự.

Tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải là tình tiết giảm nhẹ, được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân xấu, một lần bị xử lý hình sự, chưa được xóa án tích; một lần bị xử phạt vi phạm hành chính, chưa được xóa tiền sự nhưng bị cáo không biết lấy đó làm bài học nên cần xem xét khi lượng hình.

Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bến Cầu tại phiên tòa phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận. Bởi lẽ bị cáo L phạm tội nghiêm trọng, có nhân thân xấu. Do đó xét thấy cần áp dụng hình phạt tù giam để cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian, để cải tạo giáo dục cho bị cáo trở thành công dân tốt cho xã hội, biết chấp hành pháp luật.

Đối với người đàn ông chạy xe ô tô tải, do bị cáo L thuê chở tài sản trộm cắp đem bán và người đàn ông mua tài sản bị cáo trộm cắp có được, do không rõ nhân thân lai lịch nên không làm việc được, khi nào làm rõ xử lý sau.

Về hình phạt bổ sung: Theo qui định tại khoản 5 Điều 173 của Bộ luật Hình sự thì bị cáo L có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền. Tuy nhiên, theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa cho thấy bị cáo không có tài sản nên không áp dụng hình phạt bổ sung.

Về trách nhiệm dân sự: Bà Phạm Thị Hồng T yêu cầu bị cáo L có nghĩa vụ bồi thường số tiền 175.500.000 đồng. Bị cáo L chấp nhận bồi thường cho bà T số tiền 175.500.000 đồng nên ghi nhận.

Về án phí: Bị cáo L phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và dân sự sơ thẩm đối với số tiền phải bồi thường là 175.500.000 đồng.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Hải L phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự.

Xử phạt Nguyễn Hải L 06 (sáu) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 21 tháng 6 năm 2023.

2. Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ 587, 589 của Bộ luật Dân sự và Điều 48 của Bộ luật Hình sự.

Buộc bị cáo Nguyễn Hải L có nghĩa vụ bồi thường số tiền 175.500.000 (một trăm bảy mươi lăm triệu năm trăm nghìn) đồng cho bà Phạm Thị Hồng T.

Kể từ ngày bà Phạm Thị Hồng T có đơn yêu cầu thi hành án, nếu bị cáo Nguyễn Hải L chưa thanh toán số tiền nêu trên thì bị cáo L còn phải chịu số tiền lãi trên số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 Bộ luật Dân sự cho đến khi thanh toán xong.

3. Về án phí: Căn cứ Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án.

Buộc bị cáo Nguyễn Hải L phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm và 8.775.000 (tám triệu bảy trăm bảy mươi lăm nghìn) đồng án phí dân sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo Nguyễn Hải L được quyền kháng cáo theo trình tự thủ tục phúc thẩm lên Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bà Phạm Thị Hồng T được quyền kháng cáo theo trình tự thủ tục phúc thẩm lên Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận bản án hoặc bản án được niêm yết hợp pháp.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ