- Tranh chấp gì? án hình sự — "Huynh Ngoc Th - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của B…"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo Huỳnh Ngọc Th.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 101 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NGÃI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số 85/2023/HS-PT Ngày 09 - 8 - 2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NGÃI
Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phan Ngọc Minh.
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Văn Năm.
Bà Lê Thị Mỹ Giang.
Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Tuấn Phong – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ngãi.
Đại diện viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ngãi tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Huy Bình – Kiểm sát viên.
Trong ngày 09 tháng 8 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Sơn Tịnh, tỉnh Quảng Ngãi xét xử công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 93/2023/TLPT-HS ngày 07 tháng 6 năm 2023 đối với bị cáo Huỳnh Ngọc Th do có kháng cáo của bị cáo Huỳnh Ngọc Th đối với bản án hình sự sơ thẩm số: 13/2023/HS-ST ngày 24/4/2023 của Tòa án nhân dân thị xã ĐP, tỉnh Quảng Ngãi.
- Bị cáo có kháng cáo:
Họ và tên: Huỳnh Ngọc Th, sinh ngày 09 tháng 01 năm 2008 tại tỉnh Quảng Ngãi; nơi cư trú: Tổ dân phố TĐ 02, phường PT, thị xã ĐP, tỉnh Q; nghề nghiệp: Làm biển; trình độ văn hóa: 06/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Huỳnh Ngọc L và bà Nguyễn Thị Ch; vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không; bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú; bị cáo tại ngoại; có mặt tại phiên tòa.
- Người đại diện hợp pháp của bị cáo Huỳnh Ngọc Th: Bà Nguyễn Thị Ch, sinh năm 1985, có mặt tại phiên tòa (Là mẹ đẻ của bị cáo Th); trú tại: Tổ dân phố TĐ 02, phường PT, thị xã ĐP, tỉnh Q.
- Người bào chữa cho bị cáo Huỳnh Ngọc Th: Ông Đoàn Nhật N – Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Quảng Ngãi; vắng nhưng có đơn xin xét xử vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Do có mâu thuẫn từ trước, giữa Lê Quốc H, SN: 18/5/2007, ở TDP TB 1, phường PT, thị xã ĐP với Nguyễn Thanh S, SN: 18/6/2007, ở TDP TĐ 2, phường PT, thị xã ĐP, nên ngày 21/8/2022, tại bãi biển thuộc thôn Tấn Lộc, xã Phổ Châu, thị xã ĐP, H và S dùng tay đánh nhau, nhưng cả hai không bị thương tích gì.
Đến khoảng 20 giờ cùng ngày, Lê Quốc H điều khiển xe mô tô BKS 76H1-386.59 (xe do Lê Tấn Th – cha của H làm chủ sở hữu), chở Lê Anh D, SN: 13/01/2007 ở TDP LV, phường PT, thị xã ĐP, đang đi dạo trên đường bê tông ven biển thuộc TDP TB 2, phường PT, thị xã ĐP, thì thấy Nguyễn Thanh S điều khiển xe mô tô BKS 76H1-190.70 (xe này S mượn của Trần Quang Th, có Trần Quang Kh - anh trai Th làm chủ sở hữu) chở Huỳnh Ngọc Th (SN: 09/01/2008 ở TDP TĐ 2, phường PT, thị xã ĐP), đi cùng chiều phía trước theo hướng từ Bắc vào Nam. Thấy vậy, D rủ H và điện thoại rủ Nguyễn Tấn K (SN: 14/11/2005 ở TDP La Vân, phường PT, thị xã ĐP) đánh Sơn và Thái, thì cả ba thống nhất, sau đó H chở D đến đón K. H điều khiển xe mô tô, chở K ngồi giữa, D ngồi sau cùng, đi tới nhà văn hóa TDP Thạch By 1, phường PT, thị xã ĐP để lấy hung khí, gồm: 02 con dao tự chế (D mua và cất từ trước), D cầm 01 con dao tự chế dài khoảng từ 0,8-1m, có lưỡi bằng kim loại dạng lưỡi cắt, cán kim loại bằng sắt tròn, K cầm 01 con dao tự chế dài khoảng 1,2m, có lưỡi bằng kim loại dạng lưỡi cắt, cán kim loại bằng sắt tròn (BL 282, 291), đứng ngay cổng nhà văn hóa để chờ đánh S và Th. Khoảng 05 phút sau, không thấy S và Th quay lại, H điều khiển xe mô tô chở D và K đi (cùng hướng di chuyển của S và Th trước đó). Khi tới bãi Dừa thuộc TDP TB 2, phường PT, K cất 01 dao tự chế trong bãi Dừa, D vẫn cầm dao tự chế trên tay, D và K mỗi người nhặt một cục đá bê tông, to bằng nắm tay, rồi tiếp tục đi tìm đánh S và Th.
Khi H điều khiển xe mô tô, đi từ bãi Dừa đến đường bê tông ven biển, thì phát hiện S điều khiển xe mô tô chở Th đi đến (hướng từ Nam ra Bắc), D và K ném mỗi người 01 cục bê tông về hướng S và Th nhưng không trúng, S tiếp tục điều khiển xe mô tô chở Th đi về phía trước. Lúc này, H điều khiển xe mô tô đi về hướng của S và Th, D cầm dao nhảy xuống xe, K bị ngã xuống xe, nên còn H trên xe mô tô. Thấy H phía sau, Th nhảy xuống xe, lấy gậy baton để trong túi quần, cầm gậy và vụt gậy dài ra, S điều khiển xe đi tới một đoạn nữa thì dừng xe lại và nhìn về phía sau, cùng lúc này H điều khiển xe chạy tới hướng Th đang đứng đối diện, H lách xe sang bên trái tránh Th, thì Th cũng lách tránh bên trái và tay phải cầm gậy baton bằng kim loại màu trắng (gậy ba khúc có thể vụt ra, thu lại) dài ra 64cm, đánh 01 cái trúng vào mặt H theo hướng từ phải qua trái từ dưới lên trên, H không bị ngã mà tiếp tục điều khiển xe chạy tới trước một đoạn (vượt qua vị trí của S đang ngồi trên xe) và dừng lại kiểm tra vết thương. Sau đó, D và K chạy đến cầm dao tự chế chém nhau với Th, S xuống xe lấy gậy baton trên xe ra và cầm gậy baton chạy đến đánh nhau với D và K. Sau đó, hai bên dừng lại, D chở H đi cấp cứu, còn S chở Th đi về.
Hậu quả, Lê Quốc H bị Huỳnh Ngọc Th, dùng gậy baton đánh trúng mắt trái và mũi. Ngoài ra, những người còn lại không bị thương tích gì. (BL 247-303)
Tại Bản kết luận giám định thương tích số: 328/TgT ngày 14 tháng 10 năm 2022 của Trung tâm Pháp y Quảng Ngãi, tỷ lệ thương tích của Lê Quốc H như sau:
- Chấn thương đụng dập nhãn cầu mắt trái gây giảm thị lực đếm ngón tay: 41%.
- Gãy xương chính mũi: 4,13%.
- Sẹo sống mũi kt (2,5 x 0,2)cm: 1,64%.
- Sẹo khóe trong mắt trái kt (0,5 x 0,2)cm: 1,59%.
- Sẹo cung mày trái kt (2,3 x 0,2)cm: 1,54.
Tổng tỷ lệ: 49,90%. Làm tròn số = 50%.
- Các tổn thương trên phù hợp vật tày gây thương tích.
- Căn cứ Thông tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28 tháng 8 năm 2019 của Bộ Y tế quy định, tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên hiện tại là: 50% (năm mươi phần trăm).
Bản án hình sự sơ thẩm số: 13/2023/HS-ST ngày 24/4/2023 của Tòa án nhân dân thị xã ĐP, tỉnh Quảng Ngãi.
Tuyên bố: Bị cáo Huỳnh Ngọc Th phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
Áp dụng: Điểm c khoản 3 Điều 134, điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51, Điều 54, Điều 90, Điều 91, khoản 2 Điều 101 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Xử phạt bị cáo Huỳnh Ngọc Th 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo đi chấp hành án.
Ngoài ra, bản án còn tuyên phần trách nhiệm dân sự, xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Ngày 03/5/2023, bị cáo Huỳnh Ngọc Th kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin được hưởng án treo.
Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ngãi về việc giải quyết vụ án: Bản án sơ thẩm xét xử bị cáo Huỳnh Ngọc Th về tội “Cố ý gây thương tích” quy định tại điểm c khoản 3 Điều 134 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật. Tuy nhiên, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; sau khi xét xử sơ thẩm gia đình bị cáo đã bồi thường xong phần trách nhiệm dân sự cho gia đình người bị hại và gia đình người bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Đây cũng là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mới của bị cáo tại cấp phúc thẩm, nên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b khoản 1 Điều 355; điểm c khoản 1 Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo Huỳnh Ngọc Th, sửa bản án sơ thẩm xử phạt bị cáo từ 09 đến 12 tháng tù.
Luận cứ bào chữa cho bị cáo Huỳnh Ngọc Th: Hành vi của bị cáo Huỳnh Ngọc Th là vi phạm pháp luật và bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự. Tuy nhiên, khi phạm tội bị cáo chỉ mới 14 tuổi 07 tháng 12 ngày nên khả năng nhận thức chưa đầy đủ; trong vụ án này nguyên nhân dẫn đến hành vi phạm tội của bị cáo cũng có yếu tố lỗi của người bị hại Lê Quốc H; bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; tác động gia đình bồi thường 50.000.000 đồng cho người bị hại; ông nội bị cáo là người có công với cách mạng; sau khi xét xử sơ thẩm bị cáo đã tác động gia đình bồi thường xong phần dân sự là 100.000.000 đồng cho người bị hại và bên gia đình người bị hại có đơn bãi nại và giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, đây cũng là tình tiết mới của bị cáo cung cấp. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 3 Điều 134; các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54; Điều 58; Điều 90; Điều 91; Điều 65 Bộ luật hình sự chấp nhận kháng cáo của bị cáo Huỳnh Ngọc Th, cho bị cáo được hưởng án treo để bị cáo có cơ hội sửa chữa bản thân và trở thành người có ích cho xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Tại phiên tòa người đại diện hợp pháp cho bị cáo là ông Huỳnh Ngọc L (Cha đẻ của bị cáo Huỳnh Ngọc Th) vắng mặt tại phiên tòa không rõ lý do, người bào chữa cho bị cáo là ông Đoàn Nhật N vắng mặt nhưng có gửi đơn xin xét xử vắng mặt và luận cứ bào chữa cho bị cáo; bị cáo Huỳnh Ngọc Th và người đại diện hợp pháp của bị cáo Th là bà Nguyễn Thị Ch đề nghị Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án. Nên Hội đồng xét xử căn cứ Điều 351 Bộ luật tố tụng hình sự tiến hành xét xử vắng mặt những người này.
Hành vi của bị cáo: Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án nên đủ cơ sở kết luận:
Lê Quốc H và Nguyễn Thanh S có mâu thuẫn với nhau từ trước. Khoảng 20 giờ ngày 21/8/2022, Lê Quốc H điều khiển xe mô tô chở Lê Anh D đi dạo thì thấy Nguyễn Thanh S điều khiển xe mô tô chở Huỳnh Ngọc Th đi cùng chiều phía trước. Thấy vậy, D rủ H và điện thoại rủ Nguyễn Tấn K đánh S và Th, thì cả ba thống nhất. Sau đó H, D đến đón K rồi đi tới nhà văn hóa TDP TB 1, phường PT, thị xã ĐP để lấy hung khí, gồm: 02 con dao tự chế (D mua và cất từ trước), đứng ngay cổng nhà văn hóa để chờ đánh Sơn và Thái. Khoảng 05 phút sau, không thấy S và Th quay lại, H điều khiển xe mô tô chở D và K đi tìm đánh S và Th.
Khi Hiển điều khiển xe mô tô đến đường bê tông ven biển, thì phát hiện S điều khiển xe mô tô chở Th đi đến. Lúc này, H điều khiển xe mô tô đi về hướng của S và Th, D cầm dao nhảy xuống xe, K bị ngã xuống xe, chỉ còn H trên xe mô tô. Thấy H phía sau, Th nhảy xuống xe, lấy gậy baton để trong túi quần, cầm gậy và vụt gậy dài ra, S điều khiển xe đi tới một đoạn nữa thì dừng xe lại và nhìn về phía sau, cùng lúc này H điều khiển xe chạy tới hướng Thái đang đứng đối diện, H lách xe sang bên trái tránh Th, thì bị Th cầm gậy baton bằng kim loại màu trắng (gậy ba khúc có thể vụt ra, thu lại) dài ra 64cm, đánh 01 cái trúng vào mặt H, H không bị ngã mà tiếp tục điều khiển xe chạy tới trước một đoạn và dừng lại kiểm tra vết thương. Sau đó, D và K chạy đến cầm dao tự chế chém nhau với Th, S xuống xe lấy gậy baton trên xe ra và cầm gậy baton chạy đến đánh nhau với D và K. Sau đó, hai bên dừng lại, D chở H đi cấp cứu, còn S chở Th đi về. Hậu quả, Lê Quốc H bị Huỳnh Ngọc Th, dùng gậy baton đánh trúng mắt trái và mũi, bị tổn thương cơ thể 50%. Những người còn lại không bị thương tích gì. Tuy tại thời điểm phạm tội bị cáo Huỳnh Ngọc Th mới 14 tuổi 7 tháng 12 ngày nhưng bị cáo đã dùng gậy baton bằng kim loại dài ra 64cm là hung khí nguy hiểm đánh Lê Quốc H bị thương tích 50%. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm xét xử Huỳnh Ngọc Th về tội “Cố ý gây thương tích” quy định tại điểm c khoản 3 Điều 134 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.
Xét kháng cáo của bị cáo Huỳnh Ngọc Th, thì thấy: Hành vi của bị cáo Huỳnh Ngọc Th là rất nguy hiểm cho xã hội, gây mất trật tự tại địa phương. Tuy nhiên, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; tại cấp sơ thẩm đã tác động gia đình bồi thường cho người bị hại 50.000.000 đồng; lúc phạm tội bị cáo là người chưa thành niên (14 tuổi 7 tháng 12 ngày) nên khả năng nhận thức còn hạn chế; ông nội bị cáo là người có công với cách mạng; bị cáo chưa có tiền án, tiền sự; tại cấp phúc thẩm bị cáo cung cấp thêm tình tiết mới là đã tác động gia đình bồi thường xong phần dân sự cho gia đình người bị hại 100.000.000 đồng và gia đình người bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo, giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt là đúng với quy định của pháp luật.
Đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử và đúng quy định của pháp luật nên được chấp nhận.
Luận cứ bào chữa của ông Đoàn Nhật N không được Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về án phí: Bị cáo Huỳnh Ngọc Th không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Các Quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 355; điểm c khoản 1 Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo Huỳnh Ngọc Th. Sửa bản án hình sự sơ thẩm số: 13/2023/HS-ST ngày 24/04/2023 của Tòa án nhân dân thị xã ĐP, tỉnh Quảng Ngãi.
Áp dụng: Điểm c khoản 3 Điều 134; các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54; Điều 90; Điều 91; khoản 2 Điều 101 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Xử phạt bị cáo Huỳnh Ngọc Th 01 (Một) năm tù về tội “Cố ý gây thương tích”, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo đi chấp hành án.
2. Về án phí: Bị cáo Huỳnh Ngọc Th không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
3. Các Quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
4. Bản án hình sự phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - VKSND tỉnh Quảng Ngãi; - Sở Tư pháp tỉnh Quảng Ngãi; - VKSND, TAND thị xã ĐP; - Công an thị xã ĐP; - Thi hành án dân sự thị xã ĐP; - Bị cáo; - Những người tham gia tố tụng khác; - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Phan Ngọc Minh |