- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp hôn nhân giữa anh Thẳng và chị Hương"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Ngô Văn T về việc xin ly hôn và nuôi con chung với chị Nguyễn Thị Ngọc H.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự Tòa án
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỜ ĐỎ THÀNH PHỐ CẦN THƠ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 85/2023/HNGĐ-ST Ngày: 20-7-2023 “V/v tranh chấp ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỜ ĐỎ THÀNH PHỐ CẦN THƠ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Đăng Khoa
Các Hội Thẩm nhân dân: 1/ Ông Lương Hùng Dũng
2/ Ông Trần Thanh Vũ
- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Thanh Huyền – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Cờ Đỏ, thành phố Cần Thơ.
Trong ngày ngày 20 tháng 7 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cờ Đỏ, thành phố Cần Thơ, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 78/2023/TLST-HNGĐ, ngày 05 tháng 5 năm 2023 về tranh chấp: “Xin ly hôn”.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 182/2023/QĐXXST-HNGĐ, ngày 20 tháng 6 năm 2023, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Anh Ngô Văn T, sinh năm 1987 (có mặt)
Địa chỉ: Ấp T, xã T, huyện C, thành phố Cần Thơ.
Bị đơn: Chị Nguyễn Thị Ngọc H, sinh năm 1993 (vắng mặt)
Địa chỉ: Ấp T, xã T, huyện C, thành phố Cần Thơ.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
1. Theo đơn khởi kiện, bản tự khai nguyên đơn anh Ngô Văn T trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: Anh Ngô Văn T và chị Nguyễn Thị Ngọc H tự tìm hiểu và quen biết nhau, sau thời gian tìm hiểu cả 02 thống nhất tiến tới hôn nhân vào năm 2014, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện C, thành phố Cần Thơ. Cuộc sống hôn nhân của vợ chồng hạnh phúc trong thời gian đầu, sau đó thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, vợ chồng cãi nhau thường xuyên nên mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng. Kể từ tháng 5/2018 thì vợ chồng không còn chung sống với nhau nữa. Nay anh Ngô Văn T không còn tình cảm gì với chị Nguyễn Thị Ngọc H nên đề nghị Tòa án xem xét cho ly hôn.
- Về nuôi con chung: Quá trình chung sống vợ chồng có 02 con chung tên Nguyễn Thị Mộng T1, sinh ngày 24/8/2012; Ngô Thị Khánh V, sinh ngày 18/10/2014. Hiện tại các con đang sống với chị H, sau khi ly hôn anh T đồng ý giao các con chung cho chị H tiếp tục nuôi dưỡng đến tuổi trưởng thành, anh T không cấp dưỡng nuôi con.
- Về chia tài sản chung: Vợ chồng không tạo lập tài sản chung, nên không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết.
- Về nghĩa vụ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết.
2. Bị đơn chị Nguyễn Thị Ngọc H được Tòa án triệu tập hợp lệ tham gia các phiên họp công khai chứng cứ và hòa giải, tham gia phiên tòa nhưng vắng mặt không có lý do.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Về Tố tụng:
Anh Ngô Văn T khởi kiện yêu cầu được ly hôn với chị Nguyễn Thị Ngọc H, xét đây là tranh chấp về hôn nhân và gia đình, bị đơn cư trú ở địa bàn huyện C, thành phố Cần Thơ, nên thẩm quyền giải quyết thuộc Tòa án nhân dân huyện Cờ Đỏ, thành phố Cần Thơ, theo quy định tại Điều 28, Điều 35; Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Chị Nguyễn Thị Ngọc H là bị đơn được Tòa án triệu tập hợp lệ tham gia phiên tòa nhưng vắng mặt không có lý do. Căn cứ vào Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự Tòa án xét xử vắng mặt chị H. [2] Xét về quan hệ hôn nhân: Hôn nhân giữa anh Ngô Văn T và chị Nguyễn Thị Ngọc H có đăng ký kết hôn theo quy định tại Điều 9 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014, nên quan hệ hôn nhân này là hợp pháp, khi phát sinh tranh chấp Toà án xem xét giải quyết theo thủ tục chung. [3] Xét nguyên nhân mâu thuẫn trong quan hệ hôn nhân giữa anh Ngô Văn T và chị Nguyễn Thị Ngọc H: Theo trình bày của anh T do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, vợ chồng cãi nhau thường xuyên khiến tình cảm vợ chồng ngày càng xa cách, mâu thuẫn hôn nhân ngày càng trầm trọng. Kể từ tháng 5/2018 đến nay vợ chồng không còn chung sống với nhau nữa. Hiện anh T không còn tình cảm với chị H và cũng không liên hệ gì về kinh tế chung, nên đề nghị Tòa xem xét cho ly hôn. Về phía chị Nguyễn Thị Ngọc H được Tòa án triệu tập hợp lệ tham gia các phiên hòa giải và tham gia phiên tòa nhưng chị H không có mặt, điều đó chứng tỏ mâu thuẫn hôn nhân giữa chị H và anh T là trầm trọng không thể hàn gắn. Trên cơ sở đó, Tòa án chấp nhận cho anh Ngô Văn T được ly hôn với chị Nguyễn Thị Ngọc H.
Về nuôi con chung: Xét con chung của anh T và chị H tên Nguyễn Thị Mộng T1, sinh ngày 24/8/2012; Ngô Thị Khánh V, sinh ngày 18/10/2014 hiện đang sống với chị H, anh T đồng ý tiếp tục giao các con chung cho chị H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng các con chung đến tuổi trưởng thành nên Hội đồng xét xử chấp nhận. [5] Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung: Do anh T không tự nguyện cấp dưỡng nuôi con chung, đồng thời chị H cũng không có yêu cầu Tòa án xem xét buộc anh T cấp dưỡng nuôi con chung, nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về quyền chăm sóc giáo dục con chung: Dành quyền thăm nom, chăm sóc giáo dục con chung cho anh T theo quy định của pháp luật, không ai được ngăn cản. Trong trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức được quy định tại khoản 5 Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con theo quy định của pháp luật. [7] Về chia tài sản chung: Do đương sự không yêu cầu nên Tòa án không xem xét. [8] Về nghĩa vụ chung: Đương sự khai không có, tòa án không xem xét.
Về án phí hôn nhân sơ thẩm: Anh Ngô Văn T phải chịu theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên; QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 28; Điều 35; Điều 227; Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ vào các Điều 9; Điều 51; Điều 53; Điều 56 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014 có hiệu lực 01.01.2015;
Áp dụng Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về việc án phí, lệ phí.
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Ngô Văn T về việc xin ly hôn và nuôi con chung với chị Nguyễn Thị Ngọc H.
- Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa anh Ngô Văn T và chị Nguyễn Thị Ngọc H.
- Về nuôi con chung: Giao con chung tên Nguyễn Thị Mộng T1, sinh ngày 24/8/2012; Ngô Thị Khánh V, sinh ngày 18/10/2014 cho chị Nguyễn Thị Ngọc H trực tiếp nuôi dưỡng đến tuổi trưởng thành. Anh Ngô Văn T không phải cấp dưỡng nuôi con chung. Dành quyền thăm nom, chăm sóc giáo dục con chung cho anh T theo quy định của pháp luật, không ai được quyền ngăn cản. Trong trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức được quy định tại khoản 5 Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con theo quy định của pháp luật.
- Về chia tài sản chung: Đương sự không yêu cầu, Toà án không xem xét.
- Về nghĩa vụ chung: Đương sự khai không có, Toà án không xem xét.
2. Về án phí hôn nhân sơ thẩm: Anh Ngô Văn T phải nộp số tiền 300.000 đồng, được khấu trừ tạm ứng án phí số tiền 300.000 đồng theo biên lai thu số 0009897 ngày 05/5/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cờ Đỏ, thành phố Cần Thơ. Anh T đã thực hiện xong.
3. Tuyên án công khai đương sự có mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được tống đạt hay niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.
4. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại điều 2 luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại điều 6, 7 và điều 9 luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 luật Thi hành án dân sự./.
| Nơi nhận: - Các đương sự; - TAND TP Cần Thơ; - VKSND huyện Cờ Đỏ; - UBND xã Trung Hưng; - Chi cục THADS huyện Cờ Đỏ; - Phòng Tư pháp huyện Cờ Đỏ; - Lưu HS. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Nguyễn Đăng Khoa |