vanban.org

Bản án 85/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Bà H - ông A"
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN A

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH AN GIANG
Bản án số: 85/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 15/3/2023
V/v “Tranh chấp hôn nhân và gia đình, ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚ C CỘNG HÒ A XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIÊT NAṂ

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN A

Thành phần Hội đồng xé t xử gồm co:́

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Sang.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Thiện Hoàn;

2. Ông Đặng Tấn Phước.

Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Bà Trần Đỗ Ngọc Mai Thy - Thư ký Tòa án nhân dân huyện A.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện A tham gia phiên tòa: Ông Chau San – Kiểm sát viên.

Ngày 15 tháng 3 năm 2022, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện A xét xử sơ thẩm công khai vu ̣ án thu ̣ lý số : 15/2023/TLST-HNGĐ ngày 03 tháng 01 năm 2023 về viê ̣c : “Tranh chấp hôn nhân và gia đình, ly hôn” theo Quyết đi ̣nh đưa vu ̣ án ra xét xử số : 22/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 06 tháng 02 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 61/2022/QĐST-HNGĐ ngày 23 tháng 02 năm 2023 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Ngọc H, sinh năm 1993; địa chỉ: Tổ 05, ấp H, xã Đ,

huyện A, tỉnh An Giang. (Có mặt)

Bị đơn: Ông Nguyễn Trường A, sinh năm 1989; địa chỉ: Tổ 42, ấp H, xã Đ, huyện A, tỉnh An Giang. (Vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, bản tự khai cùng với các tài liệu, chứng cứ kèm theo và quá trình tố tụng tại Tòa án, bà Nguyễn Thị Ngọc H trình bày: Hôn nhân của bà với ông Nguyễn Trường A do tự tìm hiểu, được gia đình hai bên tổ chức đám cưới vào năm 2009, đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện A, tỉnh An Giang vào ngày 12/3/2012. Sau khi kết hôn vợ chồng đi làm thuê, sống tự lập, cho đến năm 2019 thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn do bà và ông A bất đồng quan điểm sống, không có tiếng nói chung, từ đó vợ chồng thường xuyên cãi nhau. Do mâu thuẫn tình cảm ngày càng trầm trọng, không thể hàn gằn nên bà và ông A đã sống ly thân hơn 02 năm nay. Trong thời gian ly thân gia đình hai bên không đứng ra hàn gắn. Nay, bà không còn tình cảm với ông A nên yêu cầu được ly hôn với ông A.

Về con chung: Có 01 con chung tên Nguyễn Thị Kim N, sinh ngày 02/9/2009. Hiện cháu N đang được ông A nuôi dạy. Khi ly hôn, bà đồng ý giao con cho ông A nuôi, không cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung, nợ chung: Không có, không yêu cầu xem xét, giải quyết.

Trong quá trình giải quyết vụ án, ông A không có mặt theo các văn bản triệu tập của Tòa nên không ghi nhận được ý kiến; ông A cũng không gửi văn bản trình bày ý kiến.

Về tài liệu chứng cứ: Các tài liệu chứng cứ các đương sự giao nộp đã được thẩm tra và công khai trong quá trình hòa giải, các đương sự không có ý kiến gì về các tài liệu chứng cứ và tại phiên tòa không ai giao nộp bổ sung thêm tài liệu chứng cứ khác.

Theo Biên bản xác mình ngày 03/02/2023 do Công an xã Đ cung cấp, ông Nguyễn Trường A; sinh năm 1989, hiện vẫn còn đăng ký hộ khẩu thường trú và sinh sống tại địa chỉ: Ấp H, xã Đ, huyện A, tỉnh An Giang.

Biên bản ghi lời khai ngày 06/02/2023 do Tòa án thu thập, người thân của bà H, ông A xác định hôn nhân giữa bà H, ông A mâu thuẫn nhau, ông A khó tính, kiếm chuyện đánh H nên H bỏ đi và ly thân với A cho đến nay.

Tại phiên tòa: Bà H giữ nguyên yêu cầu khởi kiện. Riêng ông A đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt nên Hội đồng xét xử xét xử vắng mặt ông A theo thủ tục chung.

Quan điểm của vị đại diện Viện kiểm sát về tuân thủ pháp luật của Thẩm phán trong ghi lời khai, thủ tục xét xử vắng mặt, xác định quan hệ tranh chấp, tư cách người tham gia tố tụng… là hoàn toàn phù hợp với pháp luật tố tụng dân sự. Đối với thành phần Hội đồng xét xử không có thành viên nào thuộc đối tượng phải thay đổi, việc xét hỏi tại phiên tòa, thời hạn xét xử cũng như thủ tục xét xử vắng mặt được đảm bảo.

Quan điểm của vị đại diện Viện kiểm sát về nội dung: Yêu cầu của nguyên đơn về hôn nhân có căn cứ nên đề nghị chấp nhận. Đối với tài sản chung ông A vắng mặt nếu sau này ông A chứng minh về tài sản chung thì sẽ xem xét giải quyết bằng một vụ kiện khác.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứ ng cứ có trong hồ sơ vu ̣ án và đa đượ̃

c thẩm tra tại phiên tòa và sau khi nghe đương sự trình bày tại phiên tòa. Hô ̣i đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng: Bà Nguyễn Thị Ngọc H khởi kiện yêu cầu ly hôn với ông Nguyễn Trường A. Đồng thời, ông A cư trú trên địa bàn huyện A. Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự, đây là tranh chấp về hôn nhân và gia đình nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện A.

Về việc vắng mặt của đương sự tại phiên tòa: Ông A được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ 2 tham gia phiên tòa nhưng vẫn vắng mặt. Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt ông A theo khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Về nội dung: Quan hệ hôn nhân giữa bà H và ông A có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Đ theo quy định nên được xem là hôn nhân hợp pháp thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nên thụ lý, giải quyết theo Điều 53 của Luật hôn nhân và gia đình.

Xét yêu cầu của bà H xin ly hôn với ông A, Hội đồng xét xử xét thấy thời gian ly thân giữa bà H, ông A đã lâu nhưng cả hai không có giải pháp hàn gắn, đều này phù hợp với Biên bản ghi lời khai với người làm chứng do Tòa án thu thập được. Trong quá trình giải quyết, Tòa án đã hòa giải đoàn tụ cho cả hai nhưng ông A không có mặt để hàn gắn. Cho thấy, mâu thuẫn tình cảm giữa hai bên đã thật sự trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên yêu cầu ly hôn của bà H là có căn cứ chấp nhận theo quy định tại Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình.

[3] Về con chung: Có 01 con chung tên Nguyễn Thị Kim N, sinh ngày 02/9/2009. Xét thấy, từ khi ly thân đến nay, cháu N sống cùng ông A. Do đó, để tránh xáo trộn về mặt tâm lý đối với các con chung và đảm bảo quyền lợi về mọi mặt của con chưa thành niên nên Hội đồng xét xử để con chung cho ông A tiếp tục nuôi dạy.

Về cấp dưỡng: Bà H xin không cấp dưỡng nuôi con chung, do không làm việc được với ông A nên không xác định được ông A có yêu cầu hay không. Do đó, sau này ông A có yêu cầu thì giải quyết bằng một vụ án khác.

[5] Về tài sản chung, nợ chung: Bà H xác định không có, không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét. Tuy nhiên, nếu ông A có căn cứ xác định có tài sản chung, nợ chung thì có thể khởi kiện và sẽ được giải quyết bằng một vụ án khác.

[6] Về án phí: Bà H là nguyên đơn nên phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm. Ông A không phải chịu án phí.

Vì các le trên,̃

́

QUYÊT ĐI ̣NH:

Căn cứ vào:

Các Điều 9, Điều 51, Điều 53, khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình;

Khoản 4 Điều 147, các Điều 227, Điều 228, Điều 238, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;

Điểm a, khoản 5 Điều 27 Nghị quyết: 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 hướng dẫn về án phí, lệ phí Tòa án.

Xử : Chấp nhận toàn bộ yêu cầu của bà Nguyễn Thị Ngọc H.

Về hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Ngọc H được ly hôn với ông Nguyễn Trường A.

Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 35 ngày 12/3/2012 của Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện A, tỉnh An Giang không còn giá trị pháp lý kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật.

Về con chung: Ông Nguyễn Trường A được tiếp tục nuôi dạy 01 (một) con chung tên Nguyễn Thị Kim N, sinh ngày 02/9/2009.

Hiện bà H không phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Ông A cùng các thành viên gia đình không được cản trở bà H trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của người thân thích của con, cơ quan có thẩm quyền, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, buộc cấp dưỡng nuôi con chung dựa trên các căn cứ do pháp luật quy định.

Về án phí: Bà H phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm. Khấu trừ 300.000 đồng từ tiền tạm ứng án phí theo biên lai thu số 0008010 ngày 29/12/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện A. Bà H nộp đủ.

Trong thờ i ha ̣n 15 ngày kể từ ngày tuyên án (15/3/2023) bà H được quyền kháng cáo để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh An Giang xét xử phúc thẩm. Riêng thời hạn kháng cáo của ông A là 15 ngày kể từ ngày tống đạt bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết theo quy định.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ