vanban.org

Bản án 85/2023/HNGĐ-ST — Tranh chấp về nuôi con, chia tài sản của nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn hoặc hủy kết hôn trái pháp luật

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện về việc “không công nhận là vợ chồng” của nguyên đơn bà Kiều Thị T. Không công nhận quan hệ bà Kiều Thị T với ông Kiều Văn T1 là quan hệ vợ chồng.

Về án phí: Bà Kiều Thị T phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm nhưng được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí Tòa án đã nộp theo biên lai thu tiền số 0000906, ngày 31-5-2023 của Chi Cục Thi hành án Dân sự huyện N, tỉnh Ninh Thuận. Bà Kiều Thị T đã nộp đủ án phí. Quyền kháng cáo: … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp về nuôi con, chia tài sản của nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn hoặc hủy kết hôn trái pháp luật — án hôn nhân và gia đình — "Không công nhận là vợ chồng"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện về việc “không công nhận là vợ chồng” của nguyên đơn bà Kiều Thị T. Không công nhận quan hệ bà Kiều Thị T với ông Kiều Văn T1 là quan hệ vợ chồng.
  • Căn cứ chính? Thông tư liên tịch số 01/2016/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP Hướng…; Điều 14 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN N

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TINH NINH THUẬN
Bản án số: 85/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 30 - 8 - 2023
V/v tranh chấp “Không công nhận là vợ chồng”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN N, TỈNH NINH THUẬN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Bình.

Các Hội Thẩm nhân dân: Bà Lê Thị Hường;

Ông Phạm Ngọc Minh.

Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Bà Lê Thị Nhân.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện N tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Hoài - Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 8 năm 2023 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện N xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 151/2023/TLST - HNGĐ ngày 01 tháng 6 năm 2023 về việc “không công nhận là vợ chồng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 87/2023/QĐST-HNGĐ ngày 01/8/2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 67/2023/QĐST-HPT, ngày 16/8/2023, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Kiều Thị T, sinh năm 1975 (có mặt).

Bị đơn: Ông Kiều Văn T1, sinh năm 1973 (vắng mặt).

Cùng nơi cư trú: Thôn T, xã P, huyện N, tỉnh Ninh Thuận.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Trong quá trình tham gia tố tụng và tại phiên tòa hôm nay nguyên đơn bà Kiều Thị T trình bày:

Về hôn nhân: Bà với ông Kiều Văn T1 tự nguyện tìm hiểu và kết hôn với nhau vào khoảng năm 1989-1990, nhưng không đến Ủy ban nhân dân xã P làm thủ tục đăng ký kết hôn, do không biết thủ tục đăng ký kết hôn như thế nào, nên không đi làm thủ tục đăng ký kết hôn.

Qúa trình chung sống thời gian đầu hạnh phúc, nhưng đến năm 2016-2017 thì xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân là do ông Kiều Văn T1 nói với bà là đi làm ăn, nhưng ông Kiều Văn T1 đi sống với người phụ nữ khác, bà đã đi đến nơi ông Kiều Văn T1 làm thì bắt gặp ông Kiều Văn T1 đang sống cùng với người phụ nữ khác, khi bà nói thì ông Kiều Văn T1 chữi mắng đánh đập bà. Rồi ông Kiều Văn T1 bỏ bà đi sống với người phụ nữ khác từ năm 2017 cho đến nay.

Hiện bà với ông Kiều Văn T1 đã sống ly thân với nhau từ năm 2017 cho đến nay, không quan tâm đến nhau.

Nay bà thấy không còn tình cảm với ông Kiều Văn T1, nên yêu cầu không công nhận là vợ chồng với ông Kiều Văn T1.

Về con chung: Bà với ông Kiều Văn T1 sống với nhau có 3 con chung Kiều Thị Hồng S, sinh năm 1992, Kiều Thị Hồng Q, sinh năm 1994, Kiều Ngọc Đại D, sinh năm 2000. Hiện các con chung đã trưởng thành, nên bà không yêu cầu giải quyết.

Về tài sản và nợ chung: Vợ chồng tự thỏa, không yêu cầu giải quyết.

* Trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa hôm nay, Bị đơn ông Kiều Văn T1 vắng mặt không có lý do dù đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng:

* Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện N phát biểu ý kiến:

Về thủ tục tố tụng: Thống nhất về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Thư ký và Hội đồng xét xử (Hội đồng xét xử được viết tắt là HĐXX). Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng dân sự kể từ khi thụ lý vụ án đến trước khi HĐXX nghị án, đều đảm bảo đúng theo quy định tại các Điều 70, 71, 72 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Đối với bị đơn, Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng bị đơn vắng mặt không có lý do. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự, đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt bị đơn.

Về nội dung vụ án: Khoản 1 Điều 28, Khoản 1 Điều 35, Khoản 4 Điều 147, Điều 246, Điều 271, khoản 1 Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; Khoản 1 Điều 14 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 và Thông tư liên tịch số 01/2016/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP, ngày 06-01-2016 của Tòa án nhân dân Tối cao, Viện kiểm sát nhân dân Tối cao và Bộ tư pháp; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016.

Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Kiều Thị T, không công nhận bà Kiều Thị T với ông Kiều Văn T1 là vợ chồng; Về con chung đã trưởng thành nên không xem xét đến; Về tài sản chung tự thỏa thuận, nên không xem xét đến. Buộc bà Kiều Thị T phải chịu án phí sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định:

. Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết: Căn cứ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn trong vụ án, HĐXX xác định: Quan hệ pháp luật là “Tranh chấp không công nhận là vợ chồng” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án; Bị đơn hiện đang cư trú tại thôn T, xã P, huyện N, tỉnh Ninh Thuận. Căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện N.

. Về thủ tục tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ kiện và tại phiên tòa hôm nay ông Kiều Văn T1 vắng mặt không có lý do, mặc dù Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng. Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án giải quyết vụ án vắng mặt ông Kiều Văn T1.

. Về nội dung vụ án:

. Về quan hệ hôn nhân: Bà Kiều Thị T với ông Kiều Văn T1 sống chung với nhau như vợ chồng từ năm 1989-1990. Mặc dù, theo quy định của pháp luật ông bà có đủ điều kiện đăng ký kết hôn nhưng thực tế từ trước đến nay ông bà không đăng ký kết hôn. Như vậy, bà Kiều Thị T với ông Kiều Văn T1 chưa tuân thủ Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

Tại khoản 1 Điều 14 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định về việc giải quyết hậu quả của việc nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn như sau: "Nam, nữ có đủ điều kiện kết hôn theo quy định của Luật này chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn thì không làm phát sinh quyền, nghĩa vụ giữa vợ và chồng. Quyền, nghĩa vụ đối với con, tài sản, nghĩa vụ và hợp đồng giữa các bên được giải quyết theo quy định tại Điều 15 và Điều 16 của Luật này". Đối chiếu với những quy định nêu trên, việc bà Kiều Thị T yêu cầu Tòa án giải quyết không công nhận là vợ chồng với ông Kiều Văn T1 là có căn cứ chấp nhận.

. Về con chung: Bà Kiều Thị T với ông Kiều Văn T1 sống với nhau có 03 con chung, nhưng đã trưởng thành bà Kiều Thị T không yêu cầu giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xét đến.

. Về tài sản, nợ chung: Tự thỏa thuận, nên Hội đồng xét xử không xét đến.

. Về án phí: Theo quy định tại Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, nguyên đơn bà Kiều Thị T phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm là 300.000đ.

. Xét quan điểm của đại diện Viện kiểm sát huyện N tại phiên tòa hôm nay là có căn cứ và đúng pháp luật, nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ: Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Khoản 4 Điều 147, Điều 246, Điều 271, khoản 1 Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; Khoản 1 Điều 14 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 và Thông tư liên tịch số 01/2016/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP, ngày 06-01-2016 của Tòa án nhân dân Tối cao, Viện kiểm sát nhân dân Tối cao và Bộ tư pháp; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016.

Tuyên xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện về việc “không công nhận là vợ chồng” của nguyên đơn bà Kiều Thị T. Không công nhận quan hệ bà Kiều Thị T với ông Kiều Văn T1 là quan hệ vợ chồng.

2. Về án phí: Bà Kiều Thị T phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm nhưng được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí Tòa án đã nộp theo biên lai thu tiền số 0000906, ngày 31-5-2023 của Chi Cục Thi hành án Dân sự huyện N, tỉnh Ninh Thuận. Bà Kiều Thị T đã nộp đủ án phí.

3. Quyền kháng cáo: Án xử công khai sơ thẩm, có mặt nguyên đơn, quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; Bị đơn vắng mặt, quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.

Cỡ chữ