vanban.org

Bản án 85/2022/HS-ST — Hình sự

TAND Quận 5, TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 12/09/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Xử phạt bị cáo Lê Thanh H 07 (bảy) năm tù về tội: “Cướp tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày 10 tháng 3 năm 2022.

Buộc bị cáo Lê Thanh H bồi thường cho bị hại Phạm Tấn L số tiền 974.000 (chín trăm bảy mươi bốn nghìn đồng). Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật và bị hại Phạm Tấn L có đơn yêu cầu thi hành án mà bị cáo không thanh toán khoản tiền bồi thường thiệt hại nêu trên, thì hàng tháng bị cáo còn phải chị… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Thanh H phạm tội "Cướp tài sản" - phạm tội cướp tài sản (điều 168 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Xử phạt bị cáo Lê Thanh H 07 (bảy) năm tù về tội: “Cướp tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày 10 tháng 3 năm 2022.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 5
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 85/2022/HS-ST
Ngày: 12-9-2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 5 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Ông Lâm Thanh Tiền

Các hội thẩm nhân dân:

Ông Đoàn Hồng Hải

Ông Phạm Văn Cư

Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên toà: Ông Nguyễn Đức Thành – Thư ký Toà án nhân dân Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Quang Đẩu- Kiểm sát viên.

Ngày 12 tháng 9 năm 2022, tại trụ sở Toà án nhân dân Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 60/2022/TLST-HS ngày 22 tháng 7 năm 2022, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 108/2022/QĐXXST-HS ngày 30 tháng 8 năm 2022 đối với bị cáo:

Lê Thanh H, sinh ngày 03 tháng 5 năm 1986 tại: Thành phố Hồ Chí Minh; giới tính: Nam; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: 157/38/43/24 đường T, Phường B, Quận S, Thành phố Hồ Chí Minh; Chỗ ở: Không nơi ở nhất định; Nghề nghiệp: Không; Học vấn: 2/12; dân tộc: Kinh; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Lê Thanh V; con bà: Nguyễn Thị B; Có vợ tên Phan Thị Bích T (không có đăng ký kết hôn); Con: có 04 người con, lớn nhất sinh năm 2003, nhỏ nhất sinh năm 2012; Tiền án: không; Tiền sự: Ngày 21/4/2020 bị Tòa án nhân dân Quận S, Thành phố Hồ Chí Minh quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc với thời gian 21 (hai mươi mốt) tháng; Nhân thân: Ngày 11/12/2015 bị Tòa án nhân dân Quận S, Thành phố Hồ Chí Minh quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc với thời gian 21 (hai mươi mốt) tháng; Ngày 10/10/2018 bị Tòa án nhân dân Quận S, Thành phố Hồ Chí Minh quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc thời gian 01 (một) năm 03 (ba) tháng.

Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 10/3/2022 (có mặt tại phiên tòa).

Bị hại: Ông Phạm Tấn L, sinh năm 1982; Nơi cư trú: 24/7 Tô Hiến Thành, Phường 15, Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh (có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Lê Thanh H là đối tượng sống lang thang và thường hay ở tại Công viên Phạm Đình Hổ, Quận 6. Trong thời gian ở tại Công viên, H có quen với tên T (không rõ lai lịch) cũng là đối tượng sống lang thang như H. Do không có tiền tiêu xài nên khoảng 11 giờ 40 phút ngày 10/3/2022, H rủ T đi xin tiền của người khác trên đường Nguyễn Thị Nhỏ, Quận 5 lấy tiêu xài thì T đồng ý. Khi đi H cầm con dao cán và lưỡi bằng kim loại màu trắng, dài khoảng 50 cm giấu bên trong người (H nhặt trong thùng rác ở khu vực Quận 6, không nhớ rõ địa chỉ) mục đích để hăm dọa nếu người khác không đưa tiền. Khi H và T đến trước nhà số 18 Nguyễn Thị Nhỏ, Phường 14, Quận 5 thì H nhìn thấy ông Phạm Tấn L đang ngồi bán gà nên vào hỏi xin Lộc 300.000 đồng. Ông L nói không có tiền thì H rút con dao cầm trên tay phải đưa lên trước vùng ngực của Lộc hăm dọa đồng thời nói nếu không đưa tiền sẽ lấy gà của Ông L. Do sợ bị đâm nên Lộc không phản ứng gì. Lúc này H kêu T đến gần các lồng đang nhốt 02 con gà (loại gà trống, màu đỏ, mỗi con nặng khoảng 1,5 kg). T và H mỗi người lấy 01 con rồi bỏ đi. T và H cầm 02 con gà đi về hướng đường Phạm Đình Hổ, Quận 6. Trên đường đi T và H bán 02 con gà trên cho 01 người đàn ông không rõ lai lịch với giá 300.000 đồng. Sau đó cả hai mua rượu và trái cây nhậu hết số tiền 74.000 đồng. Còn lại số tiền 226.000 đồng H cất giữ. Sau đó, T bỏ đi đâu không rõ. Nhận được tin báo của ông Phạm Tấn L, Cơ quan điều tra đã tiến hành truy tìm mời H về trụ sở Công an Phường 14, Quận 5 làm việc.

Tại Cơ quan điều tra Lê Thanh H đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như đã nêu trên.

Ông Phạm Tấn L khai: Ông L làm nghề mua bán gà tre đá tại trước nhà số 18 Nguyễn Thị Nhỏ, Phường 14, Quận 5 được khoảng 06 năm. Mỗi ngày, Ông L thường mang khoảng 02-03 con gà tre đá để bày bán trước nhà. Khoảng 11 giờ 40 ngày 10/3/2022, Ông L đang ngồi trước nhà số 18 Nguyễn Thị Nhỏ, Phường 14, Quận 5, phía trước Ông L có để 02 con gà tre, nhốt mỗi con trong 01 chuồng gà bày bán phía trước thì Lê Thanh H cùng 01 thanh niên đi đến chỗ Ông L ngồi. H nói “Ê L, mày có đưa tao 300.000 đồng không”, Ông L trả lời: “Sáng giờ có bán được con gà nào đâu mà đưa”. Lúc này, H móc từ bên hông trái ra 01 con dao cán màu trắng ra rồi cầm dao ở phía sau lưng, H nói là “Bây giờ mày không có tiền thì tao lấy 02 con gà của mày”, tên thanh niên còn lại nghe H nói liền mở chuồng gà ra lấy 01 con gà của Ông L, còn H cũng mở chuồng gà còn lại lấy con gà đưa cho tên thanh niên (tổng cộng lấy của Ông L 02 con gà). Do lúc đó Ông L sợ là nếu Ông L phản ứng thì H sẽ dùng dao chém ông nên không dám nói mà để mặc cho H và tên thanh niên lấy gà. Sau khi H và tên thanh niên bỏ đi thì Ông L đến Công an Phường 14, Quận 5 trình báo sự việc. Ông L yêu cầu H phải trả lại số tiền tương ứng với giá trị 02 con gà của ông là 1.200.000 đồng.

Vật chứng thu giữ: 01 (một) con dao cán và lưỡi màu trắng, dài khoảng 50 cm; Số tiền 226.000 đồng (hai trăm hai mươi sáu nghìn đồng) là tiền mà Lê Thanh H đã bán được 02 con gà chiếm đoạt của ông Phạm Tấn L; 01 (một) USB ghi nhận vụ việc.

Về trách nhiệm dân sự: Ông Phạm Tấn L yêu cầu Lê Thanh H bồi thường giá trị của 02 con gà với số tiền 1.200.000 đồng mà H chiếm đoạt của Ông L.

Tại bản Kết luận định giá tài sản số 72/KL-HĐĐGTS ngày 27/6/2022 của Hội đồng định giá tài sản thường xuyên trong tố tụng hình sự Quận 5 kết luận như sau: 02 (hai) con gà tre đá, mỗi con cân nặng khoảng 1,4 kg (chưa thu hồi được), còn sống, tại thời điểm định giá tháng 3 năm 2022 có giá 1.200.000 đồng (Một triệu hai trăm nghìn đồng).

Bản cáo trạng số: 61/CT-VKS ngày 13/7/2022 của Viện kiểm sát nhân dân Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố bị cáo Lê Thanh H về tội: “Cướp tài sản” theo điểm d Khoản 2 Điều 168 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 5 giữ quyền công tố luận tội và tranh luận giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo Lê Thanh H về tội: “Cướp tài sản”. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm d Khoản 2 Điều 168; điểm s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017), xử phạt bị cáo Lê Thanh H với mức án từ 07 (bảy) năm đến 08 (tám) năm tù; về vật chứng đề nghị giải quyết theo quy định của pháp luật.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại ông Phạm Tấn L yêu cầu Lê Thanh H bồi thường với số tiền 1.200.000 đồng (Một triệu hai trăm nghìn đồng), tuy nhiên Cơ quan Công an đã thu hồi lại được số tiền 226.000 đồng (hai trăm hai mươi sáu nghìn đồng) để trả cho bị hại nên tại phiên tòa Ông L chỉ yêu cầu bị cáo H bồi thường số tiền còn lại 974.000 đồng (chín trăm bày mươi bốn nghìn đồng) và bị cáo Lộc cũng đồng ý bồi thường nên đề nghị Hội đồng xét xử xem xét ghi nhận.

Bị cáo Lê Thanh H không có ý kiến bào chữa, tranh luận và nói lời nói sau cùng xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

Bị hại không có ý kiến tranh luận.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an Quận 5, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Quận 5, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa hôm nay bị cáo, bị hại không có ý kiến hoặc kH nại về các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên tòa công khai, bị cáo Lê Thanh H đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, lời khai của bị cáo là phù hợp với lời khai của bị hại, vật chứng thu giữ và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận, bị cáo Lê Thanh H cùng với một thanh niên không rõ lai lịch đã có hành vi sử dụng dao là hung khí nguy hiểm đe dọa dùng vũ lực để chiếm đoạt 02 (hai) con gà tre đá của bị hại Phạm Tấn L. Theo kết quả định giá tài sản 02 (hai) con gà tre đá, mỗi con cân nặng khoảng 1,4 kg, còn sống, tại thời điểm định giá tháng 3 năm 2022 có giá 1.200.000 đồng (Một triệu hai trăm nghìn đồng). Như vậy, hành vi của bị cáo Lê Thành H đã phạm vào tội “Cướp tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm d Khoản 2 Điều 168 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Xét bị cáo là người trưởng thành, có sức khỏe, có đủ khả năng nhận biết được hành vi của mình, biết hành vi cướp tài sản là vi phạm pháp luật, vì tham lam mà bị cáo đã bất chấp pháp luật, cố ý thực hiện hành vi phạm tội, thể hiện ý thức xem thường pháp luật.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến tài sản hợp pháp của người khác được pháp luật bảo vệ; gây mất trật tự xã hội ở địa phương.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo phạm tội không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu. Do đó, cần xem xét áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Về hình phạt áp dụng đối với bị cáo: Căn cứ Điều 50 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017). Hội đồng xét xử xét thấy cần buộc bị cáo chấp hành hình phạt tù một thời gian nhất định để đủ sức răn đe, giáo dục bị cáo và có thời gian để bị cáo cai nghiện ma túy, bên cạnh đó có tác dụng phòng, chống tội phạm.

Về hình phạt bổ sung: Bị cáo phạm tội có hoàn cảnh kinh tế khó khăn nên Hội đồng xét xử không xem xét áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng:

Xét 01 (một) con dao cán và lưỡi màu trắng, dài khoảng 50 cm là hung khí bị cáo sử dụng để phạm tội và không còn giá trị sử dụng nữa nên Hội đồng xét xử tịch thu tiêu hủy.

Số tiền 226.000 đồng (hai trăm hai mươi sáu nghìn đồng) là tiền mà Lê Thanh H đã bán được 02 con gà chiếm đoạt của ông Phạm Tấn L mà có nên xem xét trả lại cho Ông L.

Xét 01 (một) USB ghi nhận vụ việc phạm tội, hiện đang là chứng cứ lưu theo hồ sơ vụ án nên tiếp tục lưu theo hồ sơ vụ án.

Về trách nhiệm dân sự: Tại phiên tòa, ông Phạm Tấn L yêu cầu bị cáo Lê Thanh H bồi thường số tiền còn lại 974.000 đồng (chín trăm bày mươi bốn nghìn đồng) và bị cáo H cũng đồng ý bồi thường theo yêu cầu của bị hại. Xét đây là sự tự nguyện thỏa thuận bồi thường giữa bị cáo và bị hại, phù hợp với quy định pháp luật nên Hội đồng xét xử xem xét ghi nhận.

Viện kiểm sát nhân dân Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh truy tố để xét xử và đề nghị mức hình phạt đối với bị cáo là có cơ sở pháp luật, đúng người, đúng tội, không oan sai.

Đối với đối tượng tên T (không rõ lai lịch) cùng với Lê Thanh H có hành vi chiếm đoạt 02 con gà tre của ông Phạm Tấn L. Cơ quan Cảnh sát điều tra chưa xác định được lai lịch, địa chỉ, khi nào bắt được sẽ xử lý sau.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định Điều 136 Bộ luật tố tụng Hình sự 2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm d Khoản 2 Điều 168; điểm s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 50 Bộ luật Hình sự 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Xử phạt bị cáo Lê Thanh H 07 (bảy) năm tù về tội: “Cướp tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày 10 tháng 3 năm 2022.

Căn cứ Điều 48 Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017); Điều 357; Điều 589 Bộ luật Dân sự năm 2015.

Buộc bị cáo Lê Thanh H bồi thường cho bị hại Phạm Tấn L số tiền 974.000 (chín trăm bảy mươi bốn nghìn đồng).

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật và bị hại Phạm Tấn L có đơn yêu cầu thi hành án mà bị cáo không thanh toán khoản tiền bồi thường thiệt hại nêu trên, thì hàng tháng bị cáo còn phải chịu thêm khoản tiền lãi chậm trả theo quy định tại Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.

Căn cứ điểm a Khoản 1, Khoản 2 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017) ; điểm c Khoản 2, Khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.

Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) con dao cán và lưỡi màu trắng, dài khoảng 50 cm.

Trả lại cho ông Phạm Tấn L số tiền 226.000 đồng (hai trăm hai mươi sáu nghìn đồng).

Tiếp tục lưu theo hồ sơ vụ án 01 (một) USB ghi nhận vụ việc phạm tội.

(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 26/7/2022 tại Chi cục Thi hành án dân sự Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh và Giấy nộp tiền vào tài khoản số 3949.0.9061559.00000 của Công an Quận 5 tại Kho bạc Nhà nước Quận 5, do Nguyễn Văn Huy nộp ngày 05/7/2022)

Căn cứ Điều 136 Bộ luật tố tụng Hình sự 2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội; Luật phí và lệ phí.

Bị cáo chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.

Bị cáo, bị hại được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ