- Tranh chấp gì? án hình sự — "cố ý gây thương tích - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa đổi, bổ sung một số điề…"
- Tòa quyết gì? Xử phạt: Bị cáo Lê Văn Th 02 năm 03 tháng tù, nhưng cho bị cáo hưởng án
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 134 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN DŨNG CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM TỈNH BẮC GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 85/2022/HS-ST Ngày 23-12-2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN DŨNG, TỈNH BẮC GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Anh
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Đinh Thị Thu Huyền.
Ông Nguyễn Văn Thái.
- Thư ký phiên tòa: Bà Lương Thị Nhẫn, Thư ký Toà án nhân dân huyện Yên
Dũng, tỉnh Bắc Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Dũng tham gia phiên toà:
Ông Vũ Hồng Sơn, Kiểm sát viên.
Trong ngày 23 tháng 12 năm 2022, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Yên
Dũng, tỉnh Bắc Giang xét xử sơ thẩm, công khai vụ án hình sự thụ lý số 87/2022/HSST ngày 15 tháng 11năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 99/2022/QĐXXST-HS ngày 01 tháng 12 năm 2022 và quyết định hoãn phiên tòa số 48/2022/HSST- QĐ ngày 13 tháng 12 năm 2022 đối với bị cáo:
Họ và tên: Lê Văn Th, sinh năm 1994 tại thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc
Giang; tên gọi khác: Không; nơi đăng ký đăng ký hộ khẩu thường trú và nơi ở: Thôn N, xã D, thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang; nghề nghiệp: Tự do; văn hóa: 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Văn Thr (đã chết) và bà Hà Thị N; Vợ: Nguyễn Thị B, chưa có con; Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo không bị giam, giữ; bị cáo bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú.
Hiện tại ngoại. (có mặt tại phiên tòa).
- Bị hại: Anh Hoàng Văn T, sinh năm 2002; địa chỉ: Thôn V, xã Q, huyện Yên
Dũng, tỉnh Bắc Giang.(có mặt).
- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
+ Anh Phạm Đình N, sinh năm 1999; địa chỉ: Thôn N, xã Q, huyện Yên
Dũng, tỉnh Bắc Giang.(vắng mặt).
-Người làm chứng:
+ Anh Nguyễn Văn T, sinh năm 2000; địa chỉ: Thôn N, xã D, thành phố B,
tỉnh Bắc Giang. (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ
án được tóm tắt như sau:
Khoảng 18 giờ ngày 16/4/2022, Lê Văn Th, sinh năm 1994 cùng với anh
Nguyễn Văn T, sinh năm 2000 cùng ở Thôn N, xã D, thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang đến nhà anh Phạm Đình N, sinh năm 1999, ở thôn Núi, xã Q, huyện Yên Dũng, tỉnh Bắc Giang để ăn cỗ cưới. Trong khi ăn cỗ, thấy bàn bên cạnh có người quen, trong đó có anh Hoàng Văn T, sinh năm 2002, và anh Trương Đình S, sinh năm 2000 đều ở xã Q, huyện Yên Dũng, nên anh T có sang mời rượu. Sau khi mời rượu xong, anh T đứng lên để về bàn thì nghe thấy anh T và anh S nói về chuyện đánh nhau. Nghĩ là anh T định đánh mình, nên anh T đến chỗ anh T ngồi và hỏi “máy bảo định đánh ai”, thì anh T trả lời “anh hiểu nhầm rồi”, sau đó anh T dùng tay phải ôm cổ và ghì đầu anh T xuống bàn, bị ghì xuống bàn, anh T chống đỡ, nhưng do bị mất đà nên bị ngã xuống đất. Sợ anh T và anh T đánh nhau, nên anh S đứng lên ôm anh T để can ngăn và đẩy anh T đi ra. Ngay sau đó, anh T đứng dậy cầm 01 chiếc bát con loại bát ăn cơm màu trắng, bằng sứ, đường kính 8cm ném về phía anh T trúng vào vùng trán là anh T bị thương tích, bát bị vỡ, các mảnh vỡ văng ra xung quanh trúng vào người Thín đang ngồi ăn ở bàn bên cạnh. Thấy mảnh bát vỡ văng vào mình, Th đứng lên nói “mày ném bát thằng Thảo bắn cả mảnh vỡ vào người tao, ý mày như thế nào”, thì anh T nói khiêu khích “tao thích, ý mày như thế nào”. Thấy anh T có thái độ thách thức và vì trước đó từ tháng 03/2022 hai người đã có mâu thuẫn nên giữa Th và Tân xảy ra mâu thuẫn, xô sát dẫn đến đánh nhau, trong khi đánh nhau Th cầm 01 chiếc bát con loại bát ăn cơm màu trắng, bằng sứ, đường kính 8cm trên bàn ném về phía anh T trúng vào vùng mặt làm anh T bị thương tích. Thấy đánh nhau, mọi người đến can ngăn, nên các bên không xảy ra đánh nhau nữa.
Sau khi bị Th gây thương tích, anh T được đưa đến Bệnh viện đa khoa tỉnh
Bắc Giang khám và điều trị từ ngày 16/4/2022 đến 18/4/2022 ra viện với thương tích: “01 vết thương tai phải kích thước (03x01)cm; 03 vết thương má phải kích thước (03x01)cm, (02x01)cm, (01x01)cm. CT-Scanner: theo dõi ổ xuất huyết nhỏ vùng đinh trái”.
Tại bản kết luận giám định pháp y số 677/22/TgT ngày 24/5/2022 của Trung
tâm giám định pháp y tỉnh Bắc Giang kết luận:
“1.Dấu hiệu chính qua giám định: - Thương tích vết sẹo vùng mặt phải kích
thước (1x0,1)cm: 3%.
- Thương tích vết sẹo vùng mặt phải kích thước (1,2x0,1)cm: 3%.
- Thương tích vết sẹo vùng mặt phải kích thước (2x0,1)cm: 3%.
- Thương tích vết sẹo vùng mặt phải kích thước (1,5x0,1)cm: 3%.
- Thương tích theo dõi ô xuất huyết nhỏ vùng đỉnh trái + CT-Scanner SP:
Hình ảnh ổ đụng dập, tụ máu trong não kích thước nhỏ vùng trung tâm bán bầu dục trái: 23%.
- Thương tích chấn động não + Điện não đồ: Hoạt động bình thường: 1%.
Tổng tỷ lệ thương tích theo phương pháp cộng của Thông tư số 22/2019/TT- CĂN HỘ: 23% +3% +3% +3% +3% +1% = 33%.
2. Kết luận: Căn cứ Bảng tỷ lệ tổn thương cơ thể ban hành kèm theo Thông tư
Số: 22/2014/TT-BYT ngày 28/8/2014 của Bộ Y tế, tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên hiện tại là: 33% (Ba ba phần trăm).
3. Kết luận khác:
Cơ chế hình thành thương tích: do vật tày gây nên”.
Quá trình điều tra, nhận thấy việc kết luận giám định của Trung tâm giám định
pháp y tỉnh Bắc Giang chưa thoả đáng, Th đề nghị giám định lại và được anh T đồng ý. Ngày 15/6/2022, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Yên Dũng ra Quyết định trưng cầu giám định gửi đến Viện khoa học kỹ thuật hình Bộ Công an để giám định.
Tại bản kết luận giám định thương tích số 3872/KL-KTHS ngày 06/7/2022
của Viện khoa học kỹ thuật hình sự Bộ Công an kết luận:
“1. Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể:
- 04 sẹo vùng mặt phải và trước tai phải, kích thước nhỏ: mỗi sẹo 03%
- Tổn thương não vùng đỉnh trái, đã điều trị, không phải mổ, không còn hình
ảnh tổn thương trên chẩn đoán hình ảnh: 05%.
Áp dụng phương pháp xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể quy định tại
Thông tư số: 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2019 của Bộ Y tế, xác định tổng tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của anh Hoàng Văn T tại thời điểm giám định lại là: 16% (mười sáu phần trăm).
2. Cơ chế hình thành thương tích:
- Các tổn thương tại vùng mặt phải và trước tai phải của anh Hoàng Văn T do
vật có cạnh gây ra.”
- Ngày 18/10/2022, Cơ quan điều tra đã tiến hành cho bị can Lê Văn Th thực
nghiệm điều tra, diễn tả lại hành vi phạm tội của mình. Kết quả bị can Th đã mô tả và thực hiện thành thục các động tác, phù hợp với lời khai nhận tội và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án.
Trong vụ án này, đối với Hoàng Văn T có hành vi gây thương tích cho anh
Nguyễn Văn T, nhưng anh T không đề nghị giải quyết và không đi giám định, nên cơ quan điều tra không đề cập xử lý;
Quá trình điều tra, Th cùng anh T tự thoả thuận bồi thường 100.000.000 đồng
gồm các khoản chi phí điều trị, tổn thất tinh thần, bồi dưỡng. Anh T đã nhận đủ không yêu cầu bồi thường gì khác và có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho Th. Gia đình anh Nam không đề nghị gì.
Đối với chiếc bát con loại bát ăn cơm màu trắng, bằng sứ, đường kính 8cm là
tang vật vụ án, do bị vỡ thành nhiều mảnh, gia đình anh Nam đã dọn đổ đi, nên cơ quan điều tra không thu giữ được.
Tại cơ quan điều tra, Lê Văn Th đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi
phạm tội của mình như đã nêu trên.
Tại bản cáo trạng số 79/ CT- VKSYD ngày 11/11/2022 Viện kiểm sát nhân
dân huyện Yên Dũng đã truy tố bị cáo Lê Văn Th về tội "Cố ý gây thương tích", theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo thừa nhận cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố là
đúng người, đúng tội, bị cáo không bị oan. Bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Bị hại là anh Hoàng Văn T khai: Về hành vi phạm tội của bị cáo Lê Văn Th
đúng như cáo trạng mà Viện kiểm sát đã nêu. Về trách nhiệm dân sự giữa anh và bị cáo Th đã tự thoả thuận, bị cáo Th đã bồi thường cho anh số tiền là 100.000.000 đồng. Nay, anh không yêu cầu bồi thường gì khác. Về trách nhiệm hình sự thì anh đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo Th.
Hội đồng xét xử công bố lời khai của những người tham giá tố tụng vắng mặt
tại phiên tòa, bị cáo, bị hại đều không có ý kiến gì.
Sau phần xét hỏi, tại phần tranh luận Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện
Yên Dũng đã phát biểu lời luận tội đối với bị cáo, phân tích tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi mà bị cáo đã thực hiện, nhân thân bị cáo, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo đã giữ nguyên quan điểm như Cáo trạng đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
Căn cứ vào điểm đ khoản 2 Điều 134, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51,
Điều 65 Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo Lê Văn Th từ 24 tháng đến 27 tháng tù, nhưng cho bị cáo hưởng án treo về tội “ Cố ý gây thương tích”.
Thời gian thử thách từ 48 tháng đến 54 tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm
ngày 23/12/2022.
Giao bị cáo Lê Văn Th cho UBND xã D, thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc
Giang giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Về án phí: Bị cáo Th phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm theo quy
định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ đã được
tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Yên
Dũng, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Dũng, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà bị cáo, người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
. Về sự vắng mặt của những người tham gia tố tụng: Tại phiên tòa người
có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là anh Phạm Đình N, người làm chứng là anh Nguyễn Văn T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến phiên tòa nhưng vắng mặt. Tuy nhiên, tại giai đoạn điều tra và truy tố đã có lời khai nên sự vắng mặt của họ không ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án. Do vậy, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt những người trên là phù hợp với quy định Điều 292, Điều 293 của Bộ luật tố tụng hình sự.
. Về tội danh: Căn cứ lời khai nhận tội của bị cáo Lê Văn Th tại phiên tòa
hôm nay, lời khai của bị hại, vật chứng thu giữ, kết luận giám định và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ, Hội đồng xét xử xét thấy đã có đủ cơ sở kết luận: Hồi 19 giờ 30 phút ngày 16/4/2022, tại thôn Núi, xã Q, huyện Yên Dũng, tỉnh Bắc Giang. Do mâu thuẫn với nhau từ trước đó giữa Lê Văn Th với Hoàng Văn T, sinh năm 2002 ở Thôn V, Q, Yên Dũng, nên khi gặp nhau trong khi ăn cỗ cưới, và sau khi Tân dùng bát con ném Nguyễn Văn T, sinh năm 2000 ở thôn Nguộn, xã D, thành phố Bắc Giang làm bát vỡ, mảnh bát văng vào người Th, nên giữa Th và Tân xảy ra mâu thuẫn, xô sát nhau dẫn đến đánh nhau, trong khi đánh nhau, Th có dùng 01 chiếc bát con loại bát ăn cơm màu trắng, bằng sứ, đường kính 8cm ném về phía Tân trúng vào vùng mặt Tân làm Tân bị thương tích: “01 vết thương tai phải kích thước (03x01)cm; 03 vết thương má phải kích thước (03x01)cm, (02x01)cm, (01x01)cm. CT-Scanner: theo dõi ổ xuất huyết nhỏ vùng đỉnh trái”. Kết quả giám định pháp y, anh T bị tổn hại 16% sức khỏe.
Như vậy, đã có đủ cơ sở để kết luận: Bị cáo Lê Văn Th phạm tội “Cố ý gây
thương tích", theo điểm đ khoản 2 Điều 134 của Bộ luật hình sự. Cáo trạng số 79/CT -VKSYD ngày 11 tháng 11 năm 2022 của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Yên Dũng, tỉnh Bắc Giang truy tố đối với Lê Văn Th là đúng người, đúng tội.
. Xét về tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo thì thấy: Hành vi của
các bị cáo đã trực tiếp xâm hại đến sức khỏe của người khác được pháp luật bảo vệ. Bị cáo Lê Văn Th là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi phạm tội của mình là vi phạm pháp luật, nhưng bị cáo vẫn thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp. Vì vậy, cần phải xử nghiêm bị cáo bằng pháp luật hình sự mới đảm bảo tính giáo dục riêng và phòng ngừa chung đối với loại tội này. Tuy nhiên, trong vụ án này bị hại anh T cũng có một phần lỗi, đồng thời còn thách thức bị cáo gây cho bị cáo bức xúc, dẫn đến hành vi phạm tội của bị cáo. Do vậy, cũng cần xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo khi lượng hình.
. Xét về nhân thân bị cáo, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự
thì thấy:
Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Th không phải chịu tình tiết
tăng nặng trách nhiệm hình sự nào quy định tại Điều 52 Bộ luật Hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo: Trong quá trình điều tra,
truy tố và tại phiên tòa, bị cáo có thái độ khai báo thành khẩn, tỏ ra ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của bị cáo gây ra; bị cáo đã tự nguyện bồi thường khắc phục hậu quả cho bị hại; bị hại có đơn xin miễn truy cứu trách nhiệm hình sự và đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Ngoài ra bị cáo có thời gian phục vụ quân ngũ nên bị được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
. Xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cũng như nhân
thân của bị cáo, trên cơ sở xem xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, Hội đồng xét xử nhận định: Bản thân bị cáo có nơi cư trú ổn định, xuất thân từ thành phần nhân dân lao động, có nhân thân tốt và có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, hành vi phạm tội của bị cáo có lỗi một phần do bị hại. Do vậy, không cần thiết bắt bị cáo chịu hình phạt tù, mà cho hưởng án treo như đề nghị của Viện kiểm sát thì bị cáo cũng tự cải tạo, không gây nguy hiểm cho xã hội, không gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự an toàn xã hội. Ngoài ra, cũng thể hiện được chính sách nhân đạo, khoan hồng của pháp luật đối với người phạm tội, tạo cơ hội cho bị cáo sửa chữa, cải tạo thành công dân có ích cho gia đình và xã hội.
Trong vụ án này, đối với Hoàng Văn T có hành vi gây thương tích cho anh
Nguyễn Văn T, nhưng anh T không đề nghị giải quyết và không đi giám định, nên cơ quan điều tra không đề cập xử lý.
. Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo và bị hại đã thỏa thuận bồi thường cho bị
hại tổng số tiền 100.000.000 đồng. Anh T đã nhận đủ không yêu cầu bồi thường gì khác và có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáoTh, nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
.Về án phí: Bị cáo Th phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại
khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
. Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình
sự, để Hội đồng xét xử tuyên quyền kháng cáo.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1.Căn cứ vào điểm đ khoản 2 Điều 134, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51,
Điều 65 Bộ luật hình sự; khoản 2 Điều 136, Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
2.Xử phạt: Bị cáo Lê Văn Th 02 năm 03 tháng tù, nhưng cho bị cáo hưởng án
treo về tội “ Cố ý gây thương tích”.
Thời gian thử thách là 54 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm ngày
23/12/2022.
Giao bị cáo Lê Văn Th cho UBND xã D, thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc
Giang giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ
02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì áp dụng theo
quy định tại khoản 2 Điều 92 Luật thi hành án hình sự năm 2019.
3.Về án phí: Bị cáo Lê Văn Th phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ
thẩm.
4.Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại có mặt có quyền kháng cáo bản án trong
thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được (hoặc niêm yết) bản án.
| Nơi nhận: - VKSND huyện Yên Dũng; - VKSND tỉnh Bắc Giang; - Công an huyện Yên Dũng; - TAND tỉnh Bắc Giang; - Chi cục THADS huyện Yên Dũng; - Bị cáo; -Những người tham gia tố tụng; - Lưu hồ sơ, văn phòng. | T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Nguyễn Thị Anh |