- Tranh chấp gì? án hình sự — "tổ chức trái phép chất ma túy - phạm tội chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy (điều 256 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS n…"
- Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Phùng Anh T phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”; bị cáo Đinh Thị L phạm tội “Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy”,
- Căn cứ chính? Điều 255 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHƯƠNG MỸ THÀNH PHỐ HÀ NỘI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 85/2022/HS-ST Ngày: 06-9-2022 |
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHƯƠNG MỸ - THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Hoàng L
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị H
Bà Nguyễn Thị L
- Thư ký phiên tòa: Bà Đỗ Thị L – Thư ký Tòa án
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chương Mỹ tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mai - Kiểm sát viên.
Ngày 06 tháng 9 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Chương Mỹ, Thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 88/2022/TLST-HS ngày 17 tháng 8 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 114/2022/QĐXXST-HS ngày 23 tháng 8 năm 2022 đối với các bị cáo:
1. Phùng Anh T, sinh năm 1991.
Nơi đăng ký HKTT và cư trú: thôn V, xã T, huyện Chương Mỹ, Thành phố Hà Nội; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phùng Đình Q và bà Nguyễn Thị T; vợ, con: Chưa có.
Danh chỉ bản số 313 lập ngày 19/5/2022 tại Công an huyện Chương Mỹ, Thành phố Hà Nội.
Tiền án: 02 tiền án.
+ Bản án hình sự sơ thẩm số 36/2016/HSST ngày 16/5/2016, Tòa án nhân dân huyện Chương Mỹ, Thành phố Hà Nội xử phạt 06 (sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 12 (mười hai) tháng về tội “Đánh bạc”.
+ Bản án hình sự sơ thẩm số 54/2016/HSST ngày 16/12/2016, Tòa án nhân dân huyện A, Thành phố Hà Nội xử phạt 05 (năm) năm tù về tội “Cướp giật tài sản”. Tổng hợp hình phạt với 06 (sáu) tháng tù của Bản án số 36/2016/HSST ngày 16/5/2016 của Tòa án nhân dân huyện Chương Mỹ là 05 năm 06 tháng tù. Chấp hành xong án phạt tù ngày 10/03/2021 (chưa được xóa án tích).
Bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 14/5/2022.
Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 2 – Công an Thành phố Hà Nội.
Có mặt tại phiên tòa.
2. Đinh Thị L, sinh năm 1994
Nơi đăng ký HKTT: xóm N, xã M, huyện Đ, tỉnh H; nơi cư trú: thôn P, xã Y, huyện Chương Mỹ, Thành phố Hà Nội; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 07/12; dân tộc: Mường; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đinh Công C và bà Đinh Thị X; chồng (đã ly hôn); con: Đinh Văn T, sinh năm 2010.
Danh chỉ bản số 314 lập ngày 19/5/2022 tại Công an huyện Chương Mỹ, Thành phố Hà Nội.
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 14/5/2022.
Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 2 – Công an Thành phố Hà Nội.
Có mặt tại phiên tòa.
* Người bào chữa cho bị cáo Đinh Thị L:
Ông Nguyễn Tất D – Trợ giúp viên pháp lý – Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước Thành phố Hà Nội. Có mặt tại phiên tòa.
* Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
1. Bà Nguyễn Thị K, sinh năm 1965
Cư trú tại: thôn P, xã Y, huyện Chương Mỹ, TP Hà Nội.
Có mặt tại phiên tòa.
* Người làm chứng:
1. Ông Nguyễn Duy T, sinh năm 1959
Cư trú tại: thôn P, xã Y, huyện Chương Mỹ, TP Hà Nội.
2. Chị Phàn Thị G, sinh năm 1997
Cư trú tại: thôn T, xã G, huyện K, tỉnh V
3. Anh Nguyễn Hữu T, sinh năm 1992
Cư trú tại: xóm Đ, thôn P, xã Y, huyện Chương Mỹ, Thành phố Hà Nội.
Đều vắng mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Phùng Anh T là đối tượng nghiện ma túy loại Methamphetamine nên thường xuyên mua ma túy về để sử dụng cho bản thân. Ngày 13/5/2022, T gặp và hỏi mua được 01 (một) gói ma túy loại Methamphetamine với giá 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) của 01 (một) người đàn ông không quen biết ở khu vực quận H, Thành phố Hà Nội. Sau khi mua được số ma túy trên, khoảng 13 giờ ngày 14/5/2022, T mang ma túy đã mua được và một nắp chai nhựa có gắn ống hút bằng nhựa và coóng thủy tinh đi đến phòng trọ của Đinh Thị L. Tại đây, có Đinh Thị L và chị Phàn Thị G. Lúc này, Đinh Thị L đang nằm trên giường, T có hỏi Đinh Thị L cho sử dụng ma túy tại phòng của L, được L đồng ý nên T lấy vỏ chai nhựa nhãn “trà xanh không độ” trong phòng của L rồi bỏ dụng cụ sử dụng ma túy và túi ma túy đá đã chuẩn bị sẵn ra giường để sử dụng. T rủ L và chị Phàn Thị G cùng sử dụng ma túy, L đồng ý và sử dụng ma túy với T, còn chị Phàn Thị G từ chối không sử dụng. Đến khoảng 14 giờ 10 phút cùng ngày, Nguyễn Hữu T đến phòng trọ của L chơi, T có rủ Trọng sử dụng ma túy cùng, Trọng đồng ý và sử dụng ma túy cùng với T và L. T, L, Trọng sử dụng ma tuý đến khoảng 14 giờ 20 phút cùng ngày thì bị lực lượng Công an xã Y phối hợp cùng Công an huyện Chương Mỹ kiểm tra hành chính phòng trọ phát hiện bắt quả tang, thu giữ tang vật và đưa các đối tượng về trụ sở làm việc.
* Vật chứng thu giữ:
- 01 (một) chai nhựa nhãn trà xanh không độ, trên nắp có gắn ống hút nhựa và 01 (một) coóng thủy tinh bên trong có chứa tinh thể màu trắng nghi là ma túy tổng hợp dạng đá, được thu giữ vào trong một túi nilong màu trắng, có kích thước (5x8)cm, được niêm phong trong phong bì (ký hiệu mẫu số 01);
- 01 (một) túi nilon màu trắng, kích thước (2x3)cm, bên trong có bám dính chất tinh thể màu trắng nghi là ma túy tổng hợp dạng đá, được niêm phong trong phong bì (ký hiệu mẫu số 02);
- 01 (một) coóng thủy tinh đã qua sử dụng, bên trong có bám dính chất tinh thể màu trắng nghi là ma túy tổng hợp dạng đá, được niêm phong trong phong bì (ký hiệu mẫu số 03);
- 01 (một) bật lửa gas màu đỏ, đã qua sử dụng.
Tại Kết luận giám định số 3210/KL-KTHS ngày 21/5/2022 của Phòng kỹ thuật Hình sự Công an Thành phố Hà Nội kết luận:
“- Tinh thể màu trắng trong 01 (một) túi nilong màu trắng có kích thước (5x8)cm, được niêm phong trong phong bì ký hiệu mẫu số 01, gửi giám định là ma túy loại Methamphetamine, tổng khối lượng: 0,129 gam.
- 01 (một) túi nilong màu trắng có kích thước (2x3)cm, gửi giám định trong phong bì (ký hiệu mẫu số 02) có bám dính chất ma túy là ma túy loại Methamphetamine..
- 01 (một) coóng thủy tinh, gửi giám định trong phòng bì (ký hiệu mẫu số 03) có bám dính chất ma túy, là ma túy loại Methamphetamine”.
Tại biên bản xét nghiệm nước tiểu tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Chương Mỹ của Phùng Anh T, Đinh Thị L và Nguyễn Hữu T ngày 14/5/2022 đều có kết quả dương tính với ma túy loại Methamphetamine (MET).
Tại biên bản xét nghiệm nước tiểu của Phàn Thị G ngày 14/5/2022 tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Chương Mỹ có kết quả âm tính với các loại ma túy.
Cáo trạng số 85/CT-VKS ngày 12/8/2022, Viện kiểm sát nhân dân huyện Chương Mỹ, Thành phố Hà Nội truy tố: Bị cáo Phùng Anh T về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b, h khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự; bị cáo Đinh Thị L về tội “Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm d khoản 2 Điều 256 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa,
- Các bị cáo Phùng Anh T và Đinh Thị L đã khai nhận toàn bộ hành vi đã thực hiện như nội dung bản Cáo trạng đã nêu và đều đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
- Bà Nguyễn Thị K là chủ phòng trọ thừa nhận việc bị cáo L thuê và ở phòng trọ của bà, khu phòng trọ cách nơi gia đình bà đang ở khoảng 300m nên bà không biết việc bị cáo L cho bị cáo T cùng bạn đến phòng trọ để cùng sử dụng ma túy; bị cáo L thuê phòng trọ của bà mới được khoảng 01 tuần thì bị bắt nên bà Kim không yêu cầu bị cáo L phải trả tiền phòng trọ trong thời gian bị cáo L đã ở.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chương Mỹ giữ nguyên quan điểm truy tố. Sau khi phân tích, đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Phùng Anh T phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”; bị cáo Đinh Thị L phạm tội “Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy”. Đề nghị:
+ Áp dụng điểm b, h khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Phùng Anh T từ 08 đến 09 năm tù.
+ Áp dụng điểm d khoản 2 Điều 256; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Đinh Thị L từ 07 đến 08 năm tù.
Không áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền đối với cả hai bị cáo.
Về xử lý vật chứng: Đại diện Viện kiểm sát đề nghị tịch thu tiêu hủy toàn bộ số ma túy và dụng cụ để sử dụng ma túy đã thu giữ.
Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
+ Người bào chữa cho bị cáo Đinh Thị L có quan điểm: Bị cáo Đinh Thị L có nhân thân tốt; chưa có tiền án, tiền sự, phạm tội lần đầu; việc bị cáo cho bị cáo Phùng Anh T sử dụng ma túy tại nơi ở của mình cũng là do giữa bị cáo và bị cáo T có quan hệ bạn bè nên bị cáo nể nang; bị cáo hiện đã ly hôn và đang nuôi con nhỏ; bị cáo là người dân tộc Mường nên nhận thức pháp luật có phần còn hạn chế. Đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo nhằm thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
. Về tố tụng:
. Về quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, của cơ quan truy tố, về hành vi tố tụng của Điều tra viên, của Kiểm sát viên: Đã tuân thủ đúng và đầy đủ các quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự về: Khởi tố vụ án, khởi tố bị can, phê chuẩn quyết định khởi tố bị can, áp dụng biện pháp tạm giữ, tạm giam; các biện pháp điều tra như lấy lời khai bị can, lấy lời khai người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan và những người làm chứng, thu giữ vật chứng, trưng cầu giám định, giao nhận các văn bản tố tụng cho các bị can; cử người bào chữa cho bị can thuộc diện được trợ giúp pháp lý. Các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thu thập đầy đủ, đúng trình tự theo quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Điều tra viên, Kiểm sát viên không mớm cung, ép cung, bức cung, dùng nhục hình đối với các bị can. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
. Về sự vắng mặt của những người làm chứng: Người làm chứng đều đã có lời khai trong quá trình điều tra nên không ảnh hưởng đến việc xét xử vụ án.
. Về nội dung:
. Xét lời khai của các bị cáo Phùng Anh T và Đinh Thị L tại phiên tòa phù hợp với biên bản bắt giữ người phạm tội quả tang, tang vật thu giữ, kết luận giám định, lời khai của người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, lời khai của những người làm chứng và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Do đó có đủ cơ sở để kết luận:
Khoảng 13 giờ đến 14 giờ 20 phút ngày 14/5/2022, tại phòng trọ của Đinh Thị L tại thôn P, xã Y, huyện Chương Mỹ, Thành phố Hà Nội, Phùng Anh T có hành vi rủ rê lôi kéo Đinh Thị L và Nguyễn Hữu T sử dụng ma túy loại Methamphetamine (MET). Đinh Thị L có hành vi chứa chấp Phùng Anh T, Nguyễn Hữu T sử dụng ma túy loại Methamphetamine (MET) thì bị bắt quả tang.
Hành vi chuẩn bị ma túy, dụng cụ để sử dụng ma túy và rủ rê lôi kéo Đinh Thị L và Nguyễn Hữu T cùng sử dụng ma túy mà bị cáo Phùng Anh T thực hiện đã phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” thuộc trường hợp “đối với 02 người trở lên” là tình tiết định khung theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự; bị cáo Phùng Anh T đã có 02 tiền án, trong đó có 01 tiền án phạm tội “Cướp giật tài sản” quy định tại khoản 2 điều 136 Bộ luật Hình sự năm 1999 thuộc trường hợp phạm tội rất nghiêm trọng, nay lại phạm tội rất nghiêm trọng do cố ý, nên lần phạm tội này của bị cáo T thuộc trường hợp “Tái phạm nguy hiểm” là tình tiết định khung theo quy định tại điểm h khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự.
Hành vi sử dụng nơi ở do mình quản lý để cho hai người là Phùng Anh T, Nguyễn Hữu T và bản thân mình cùng sử dụng ma túy mà Đinh Thị L thực hiện đã phạm tội “Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy” với tình tiết định khung “Đối với 02 người trở lên” theo quy định tại điểm d khoản 2 Điều 256 Bộ luật Hình sự.
Do vậy, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Chương Mỹ truy tố: Bị cáo Phùng Anh T về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b, h khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự; truy tố bị cáo Đinh Thị L về tội “Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm d khoản 2 Điều 256 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
Xét hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, hành vi đó đã trực tiếp xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma tuý, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh, trật tự trên địa bàn. Nếu không ngăn chặn kịp thời sẽ kéo theo nhiều tệ nạn xã hội và tội phạm khác. Bị cáo Phùng Anh T đã có 02 tiền án chưa được xóa: Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 36/2016/HSST ngày 16/5/2016, Tòa án nhân dân huyện Chương Mỹ, Thành phố Hà Nội xử phạt 06 (sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 12 tháng về tội “Đánh bạc”; tại Bản án hình sự sơ thẩm số 54/2016/HSST ngày 16/12/2016, Tòa án nhân dân huyện A, Thành phố Hà Nội xử phạt 05 (năm) năm tù về tội “Cướp giật tài sản”. Tổng hợp hình phạt với 06 (sáu) tháng tù của Bản án số 36/2016/HSST ngày 16/5/2016 của Tòa án nhân dân huyện Chương Mỹ là 05 năm 06 tháng tù, điều đó chứng tỏ bị cáo Phùng Anh T đã có thời gian được giáo dục, cải tạo nhưng không chịu sửa chữa, nay lại tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội. Do vậy, cần phải có hình phạt tù nghiêm và có thời gian cách ly bị cáo ra khỏi xã hội đủ để giáo dục bị cáo trở thành người công dân có ích cho xã hội, đáp ứng yêu cầu đấu tranh phòng, chống tội phạm cũng như phòng ngừa chung.
Đối với bị cáo Đinh Thị L, khi được bị cáo Phùng Anh T mang ma túy đến và hỏi L cho sử dụng ma túy tại nơi ở của mình mặc dù nhận thức được hành vi cho người khác sử dụng ma túy tại nơi ở của mình và việc mình cùng sử dụng ma túy là vi phạm pháp luật nhưng bị cáo vẫn đồng ý cho T sử dụng và đồng thời L và Nguyễn Hữu T (bạn của L) cùng sử dụng ma túy do T mang đến. Do vậy, cũng cần có hình phạt tù nghiêm và có thời gian cách ly bị cáo ra khỏi xã hội đủ để giáo dục bị cáo trở thành người công dân có ích cho xã hội.
Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 255 Bộ luật Hình sự, bị cáo Phùng Anh T còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền từ 50.000.000 đồng đến 200.000.000 đồng và theo quy định tại khoản 3 Điều 256 Bộ luật Hình sự, bị cáo Đinh Thị L còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền từ 50.000.000 đồng đến 200.000.000 đồng. Xét, các bị cáo là người lao động tự do, không có nghề nghiệp ổn định nên miễn hình phạt bổ sung cho cả hai bị cáo, tạo điều kiện để các bị cáo yên tâm cải tạo.
Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo Phùng Anh T thuộc trường hợp “Tái phạm nguy hiểm” và đã là tình tiết định khung theo quy định tại điểm h khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự nên không áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo.
Về tình tiết giảm nhẹ: Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa cả hai bị cáo đều thành khẩn khai báo và tỏ ra ăn năn hối cải nên cả hai bị cáo đều được áp tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự; bị cáo Đinh Thị L nhân thân chưa có tiền án tiền sự, bị cáo là phụ nữ và là người dân tộc thiểu số; giữa bị cáo và các đối tượng sử dụng ma túy đều có mối quan hệ bạn bè và bị cáo cũng là người cùng sử dụng ma túy cùng các đối tượng khác; việc bị cáo cho các đối tượng sử dụng ma túy tại nơi ở của mình không có mục đích hưởng lợi bất chính nên cần xem xét cho bị cáo được hưởng tình thêm tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Về nguồn gốc ma túy: Nguồn gốc số ma túy Methamphetamine, Phùng Anh T khai nhận mua ma túy của một người nam giới không rõ tên tuổi địa chỉ tại khu vực quận H, Thành phố Hà Nội vào chiều ngày 13/5/2022. Ngoài lời khai của T không có tài liệu khác chứng minh nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Chương Mỹ không đủ cơ sở điều tra, xử lý.
* Đối với Nguyễn Hữu T có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy loại Methamphetamine, hành vi của Trọng chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự. Do vậy, Cơ quan Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Chương Mỹ đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 161/QĐ-XPHC ngày 14/7/2022 đối với Trọng bằng hình thức “Cảnh cáo” là có căn cứ.
* Đối với Phàn Thị G đã ở trong phòng trọ khi các đối tượng Phùng Anh T, Đinh Thị L và Nguyễn Hữu T sử dụng ma túy, có được rủ nhưng không sử dụng ma túy nên Cơ quan Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Chương Mỹ không đề cập xử lý là có căn cứ.
* Đối với bà Nguyễn Thị K là chủ phòng trọ không biết L cho các đối tượng sử dụng ma túy tại phòng trọ nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Chương Mỹ không đề cập xử lý là có cơ sở.
. Về xử lý vật chứng: Số ma túy đã thu giữ và dụng cụ sử dụng ma túy không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.
. Về án phí: Bị cáo Phùng Anh T và Đinh Thị L mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Phùng Anh T phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”; bị cáo Đinh Thị L phạm tội “Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy”,
2. Về điều luật áp dụng và hình phạt:
Áp dụng điểm b, h khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự: Xử phạt Phùng Anh T 08 (Tám) năm 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 14/5/2022.
Áp dụng điểm d khoản 2 Điều 256; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự: Xử phạt Đinh Thị L 07 (bảy) năm 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 14/5/2022.
3. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015:
Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) phong bì dán kín của Phòng kỹ thuật Hình sự - Công an Thành phố Hà Nội, tại các mép dán có chữ ký của Giám định viên Trần Ngọc C, cán bộ Công an Nguyễn Văn C và đối tượng Phùng Anh T (ký hiệu mẫu 1); 01 (một) phong bì dán kín của Phòng kỹ thuật Hình sự - Công an Thành phố Hà Nội, tại các mép dán có chữ ký của Giám định viên Trần Ngọc C, cán bộ Công an Nguyễn Văn C và đối tượng Phùng Anh T (ký hiệu mẫu 2); 01 (một) phong bì dán kín của Phòng kỹ thuật Hình sự - Công an Thành phố Hà Nội, tại các mép dán có chữ ký của Giám định viên Trần Ngọc C, cán bộ Công an Nguyễn Văn C và đối tượng Phùng Anh T (ký hiệu mẫu 3); 01 (một) chai nhựa nhãn trà xanh không độ, trên nắp có gắn ống hút nhựa; 01 (một) bật lửa gas màu đỏ, đã qua sử dụng.
(Tình trạng vật chứng như biên bản giao, nhận vật chứng ngày 16/8/2022 giữa Công an huyện Chương Mỹ với Chi cục Thi hành án dân sự huyện Chương Mỹ, Thành phố Hà Nội).
4. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, L phí Tòa án: Buộc các bị cáo Phùng Anh T và Đinh Thị L mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
5. Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, 333 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015: Bị cáo Phùng Anh T, Đinh Thị L và người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan là bà Nguyễn Thị K có mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
THẨM PHÁN
CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
| Nơi nhận: - TAND thành phố Hà Nội; - VKSND huyện Chương Mỹ; - Công an huyện Chương Mỹ; - CC THA dân sự huyện Chương Mỹ; - Sở Tư pháp thành phố Hà Nội; - Bị cáo; - UBND nơi bị cáo cư trú; - Lưu: Hồ sơ, VT. CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN | T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Hoàng L THẨM PHÁN CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |