vanban.org

Bản án 85/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà Nguyễn Thị Kim Sương Nguyệt A với ông Tiêu Như K.

Về con chung: Giao con chung tên Nguyễn Thị Kiều Vy, sinh ngày 21/6/2010 cho bà A tiếp tục nuôi dưỡng, bà A không yêu cầu ông K cấp dưỡng nuôi con. Ông K được quyền tới lui, thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung, không ai được quyền ngăn cản. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Xin ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà Nguyễn Thị Kim Sương Nguyệt A với ông Tiêu Như K.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự xử vắng đương sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ RẠCH GIÁ
TỈNH KIÊN GIANG
Bản án số: 85/2022/HNGĐ-ST

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Ngày: 01/12/2022
V/v: “Ly hôn, tranh chấp nuôi con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ RẠCH GIÁ

- Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán-Chủ toạ phiên toà: Ông Bùi Chí L

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Trần Thị L

2. Bà Nguyễn Thị Ngọc D

- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Kim Ư– Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Rạch Giá.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Rạch Giá tham gia phiên tòa: Thuộc trường hợp không tham gia phiên tòa.

Trong ngày 01 tháng 12 năm 2022. Tại phòng xử án của Tòa án nhân dân thành phố Rạch Giá, xét xử sơ thẩm công Ki vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 283/2022/TLST-HNGĐ ngày 09 tháng 8 năm 2022 về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 89/2022/QĐST-HNGĐ ngày 23 tháng 11 năm 2022 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Kim Sương Nguyệt A, sinh năm 1974 (Có mặt)

Địa chỉ: Số 8/10 khu phố Nhơn Hòa 1, phường 5, thành phố Tân An, tỉnh Long An.

2. Bị đơn: Ông Tiêu Như K, sinh năm 1971 (có đơn xin vắng mặt)

Địa chỉ: Số 170C khu phố Vĩnh Viễn, phường Vĩnh Hiệp, thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Tại đơn khởi kiện đề ngày 02/8/2022 bà Nguyễn Thị Kim Sương Nguyệt A trình bày: Trước đây bà A và ông K tự nguyện tiến tới hôn nhân, có đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân phường Vĩnh Hiệp, thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang vào ngày 02/7/2009.

Lý do xin ly hôn: Bà A trình bày trong quá trình chung sống hai bên thường xuyên phát sinh mâu thuẫn do tính tình đôi bên không hợp nhau, vợ chồng thiếu sự quan tâm, chăm sóc lẫn nhau dẫn đến tình cảm rạn nứt, bà A đã về nhà mẹ ruột sinh sống, hai bên sống ly thân từ tháng 11/2009 đến nay. Thấy không thể tiếp tục chung sống hạnh phúc, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên bà Nguyễn Thị Kim Sương Nguyệt A yêu cầu được ly hôn với ông Tiêu Như K.

Về con chung: Bà A xác nhận bà và ông K chung sống có 01 người con chung tên Nguyễn Thị Kiều Vy, sinh ngày 21/6/2010, hiện đang sống với bà A. Bà A yêu cầu được tiếp tục nuôi con, không yêu cầu ông K cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung, nợ chung: Bà A xác nhận không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Ông Tiêu Như K trình bày tại bản ý kiến ngày 16/11/2022 như sau:

Ông K thống nhất với lời trình bày của bà A tại đơn khởi kiện xin ly hôn. Ông K yêu cầu như sau:

Về con chung: Ông K xác nhận vợ chồng chung sống có 01 người con chung tên Nguyễn Thị Kiều Vy, sinh ngày 21/6/2010, hiện đang sống với bà A. Ông K đồng ý cho bà A được tiếp tục nuôi con, ông K không cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung, nợ chung: Ông K xác nhận không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Tại phiên tòa:

Bà A giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, bà kiên quyết xin ly hôn với ông K.

Về con chung: Bà A yêu cầu được tiếp tục nuôi con, không yêu cầu ông K cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung, nợ chung: Bà A xác nhận không có.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà. Hội đồng xét xử nhận định:

Về thủ tục tố tụng:

+ Về thẩm quyền: Xét quan hệ pháp luật tranh chấp giữa bà Nguyễn Thị Kim Sương Nguyệt A và ông Tiêu Như K là “Ly hôn, tranh chấp nuôi con”. Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 thì vụ án thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân thành phố Rạch Giá.

+ Về sự tham gia phiên tòa của các đương sự: Trong quá trình giải quyết vụ án từ khi thụ lý đến nay, Tòa án đã tống đạt hợp lệ cho các đương sự các văn bản tố tụng và tại phiên tòa hôm nay bị đơn ông Tiêu Như K có đơn xin xét xử vắng mặt, việc xin xét xử vắng mặt này là phù hợp với quy định của pháp luật nên được Hội đồng xét xử chấp nhận. Do đó, căn cứ vào khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự xử vắng đương sự trên. Hội đồng xét xử sẽ căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ và lời Ki của đương sự tại phiên tòa để giải quyết theo quy định của pháp luật.

Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và những nội dung liên quan đến vụ án:

Bà Nguyễn Thị Kim Sương Nguyệt A và ông Tiêu Như K tự nguyện tìm hiểu sau đó tiến tới hôn nhân, có tổ chức lễ cưới theo phong tục, có đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân phường Vĩnh Hiệp, thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang vào ngày 02/7/2009 nên đây là hôn nhân hợp pháp. Bà A khởi kiện cho rằng quá trình chung sống giữa vợ chồng do tính tình không hợp nhau, bà A đã tạo nhiều cơ hội để hàn gắn nhưng không có kết quả. Xét thấy việc chung sống vợ chồng là phát sinh từ sự tự nguyện của hai bên, vợ chồng phải biết quan tâm, chăm sóc lẫn nhau nhưng giữa bà A và ông K đã phát sinh nhiều mâu thuẫn và sống ly thân từ nhiều năm nay, bà A cũng xác nhận hiện nay không còn tình cảm với ông K nên kiên quyết xin ly hôn với ông K, đồng thời ông K cũng có ý kiến đồng ý ly hôn với bà A. Từ đó, xét thấy mâu thuẫn vợ chồng giữa ông bà đã đến mức trầm trọng, cuộc sống chung không thể kéo dài, do đó sau khi thảo luận, Hội đồng xét xử thống nhất chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà A với ông K

Về con chung: Bà A và ông K xác nhận có 01 người con chung tên Nguyễn Thị Kiều Vy, sinh ngày 21/6/2010, hiện đang sống với bà A. Bà A và ông K thống nhất giao con chung cho bà A tiếp tục nuôi dưỡng, bà A không yêu cầu ông K cấp dưỡng nuôi con. Xét thấy sự thỏa thuận này là phù hợp với quy định của pháp luật và phù hợp với nguyện vọng của con nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về tài sản chung, nợ chung: Bà A và ông K xác nhận không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm ly hôn: Bà Nguyễn Thị Kim Sương Nguyệt A phải chịu án phí theo quy định của pháp luật là 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng) được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí mà bà A đã nộp theo biên lai thu số 0000215 ngày 03/8/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Rạch Giá là phù hợp với quy định tại Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a, khoản 1 Điều 35; điểm a, khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

Áp dụng Điều 56; 58; 81; 82; 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

Áp dụng khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14.

Tuyên xử:

1. Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà Nguyễn Thị Kim Sương Nguyệt A với ông Tiêu Như K.

2. Về con chung: Giao con chung tên Nguyễn Thị Kiều Vy, sinh ngày 21/6/2010 cho bà A tiếp tục nuôi dưỡng, bà A không yêu cầu ông K cấp dưỡng nuôi con.

Ông K được quyền tới lui, thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung, không ai được quyền ngăn cản.

3. Về tài sản, nợ chung: Bà A và ông K xác nhận không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

4. Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm ly hôn: Buộc bà Nguyễn Thị Kim Sương Nguyệt A phải nộp án phí theo quy định của pháp luật là 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng) được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí mà bà A đã nộp theo biên lai thu số 0000215 ngày 03/8/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Rạch Giá.

5. Quyền kháng cáo: Nguyên đơn có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 01/12/2022).

Riêng bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án tự nguyện thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ