- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất — án dân sự — "Nguyễn Tiến D - Nguyễn Thị H"
- Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng cáo của bà Nguyễn Thị H1.
- Căn cứ chính? Điều 296 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 3 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 8 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH NAM ĐỊNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 85/2022/DS-PT Ngày 30 - 12 - 2022 V/v tranh chấp giao dịch chuyển nhượng quyền sử dụng đất; giải quyết giao dịch dân sự vô hiệu. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH NAM ĐỊNH
- THnh phần Hội đồng xét xử ph c thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Vũ Thị Thu
Các Thẩm phán: Bà Mai Thị Minh Hồng
Ông Lại Văn Tùng
- Thư ký phiên tòa: Ông Vũ Hoàng Giang - Thư T a án nhân dân t nh Na
Định.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nam Định tham gia phiên toà:
Ông Trần Mạnh Trường - Kiể sát viên.
Ngày 30 tháng 12 nă 2 22 tại trụ sở Toà án nhân dân t nh Na Định t ử phúc thẩ công hai vụ án dân sự phúc thẩ thụ l số 82/2022/TLPT-DS ngày 09 tháng 11 nă 2 22 về tranh chấp giao dịch chuyển nhượng quyền sử dụng đất; giải quyết hậu quả giao dịch chuyển nhượng quyền sử dụng đất vô hiệu; tranh chấp hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất.
Do ản án dân sự s thẩ số 74/2022/DS-ST ngày 24 tháng 8 nă 2 22 của T a án nhân dân huyện Hải Hậu, t nh Na Định ị háng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra t ử phúc thẩ số 136/2 22/QĐ-PT ngày 05 tháng 12 nă 2 22 gi a các đư ng sự:
- Nguyên đơn: 1. Ông Nguyễn Tiến D; sinh nă 1965;
2. Bà Lê Thị H; sinh nă 1966;
Cùng cư trú: Xó SĐ, ã HC, huyện HH, t nh Na Định.
- Người đại diện theo ủy quyền của ông Nguyễn Tiến D: Bà Lê Thị H; sinh nă 1966; địa ch : Xó SĐ, ã HC, huyện HH, t nh Na Định. Theo văn ản ủy quyền ngày 6 tháng 12 nă 2 22.
- Bị đơn: Bà Nguyễn Thị H1; sinh nă 1938; địa ch : Xóm TC, xã HC, huyện HH, t nh Na Định.
- Người đại diện theo ủy quyền của bà Nguyễn Thị H1:
Ông Nguyễn Văn Kh; sinh nă 1974; địa ch : Xó TC, ã HC, huyện HH, t nh Na Định. Theo văn ản ủy quyền ngày 28-4-2022.
- Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bà Nguyễn Thị H1: Luật sư Lại Huy Phát - Văn ph ng luật sư Huy Phát thuộc Đoàn luật sư H Nội.
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
1. Bà Phạ Thị Nh; sinh nă 1976; địa ch : Xó TC, ã HC, huyện HH, t nh Na Định.
2. Bà Phạ Thị Ng; sinh nă 1952; địa ch : Xó Cồn Tr n Tây, ã Hải H a, huyện Hải Hậu, t nh Na Định.
3. Ông Phạ Văn N; sinh nă 1958; địa ch : Ấp Hải Lâ , ã Phước Hưng, huyện Long Điền, t nh Bà Rịa- Vũng Tàu.
4. Ông Phạ Ngọc V; sinh nă 196 ; địa ch : NH số 1, ngõ 111, phường Giáp Bát, quận Hoàng Mai, tHnh phố H Nội.
5. Ông Phạ Ngọc T; sinh nă 1966; địa ch : Ấp Hải Lâ , ã Phước Hưng, huyện Long Điền, t nh Bà Rịa - Vũng Tàu.
6. Ông Phạ Văn T1; sinh nă 1979; địa ch : Ấp Hải Lâ , ã Phước Hưng, huyện Long Điền, t nh Bà Rịa - Vũng Tàu.
- Người đại diện theo ủy quyền của ông T và ông T1:
Ông Nguyễn Văn Kh; sinh nă 1974; địa ch : Xó TC, ã HC, huyện HH, t nh Na Định. Theo văn ản ủy quyền ngày 23-5-2022.
7. Bà Phạ Thị T2; sinh nă 1981; địa ch : Xó Tây Cát, ã Hải L , huyện Hải Hậu, t nh Na Định.
- Người làm chứng:
1. Ông Hoàng Văn Xuyên; sinh nă 195 ; địa ch : Xó SĐ, ã HC, huyện HH, t nh Na Định.
2. Ông Vũ Văn Đoàn; sinh nă 1971; địa ch : Xó SĐ, ã HC, huyện HH, t nh Na Định.
3. Ông Nguyễn Văn Tĩnh; sinh nă 1968; địa ch : Xó Tây S n, ã Hải Chính, huyện Hải Hậu, t nh Na Định.
- Người kháng cáo: Bà Nguyễn Thị H1 là ị đ n.
Tại phiên t a phúc thẩ : Bà H, ông Khư ng, luật sư Phát có ặt. Nh ng
người tha gia tố tụng hác vắng ặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Tại đ n hởi iện đề ngày 01-3-2022 và quá trình tố tụng tại Toà án nguyên đ n, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đ n ông Nguyễn Tiến D; bà Lê Thị H trình bày:
Khoảng nă 1996, NH nước chủ trư ng ở rộng tuyến đê iển trong đó có đoạn đê qua địa phận ã Hải Chính; đồng thời, với chính sách hỗ trợ từ Chính phủ Đan Mạch, Ủy an nhân dân (UBND) các ã ven iển đã vận động người dân sinh sống ở vùng sát ven chân đê di dời chỗ ở, để tránh nh ng ảnh hưởng nặng nề từ thiên tai. Sau hi, được vận động, nhiều hộ dân tự nguyện chuyển chỗ ở, nh ng hộ hó hăn được NH nước hỗ trợ ột phần. Đối với hộ bà Nguyễn Thị H1 sau hi ông Lệ (chồng à Hoa) chết, à Hoa án nếp nH gỗ cổ ây dựng trên thửa đất số 6 tờ ản đồ số 21 (sau đây viết tắt thửa đất số 6) xã Hải Chính và ua thổ đất hác tại ó Trung Châu, ã Hải Chính để ở, thửa đất số 6 ch c n lại gian ếp đã cũ và phần đất trống tan hoang, hông cây cối hoa àu, hông người ở.
Nă 2 2, vợ chồng ông D bà H ua lại của à Hoa thửa đất trên. Theo thỏa thuận, à Hoa đồng chuyển nhượng cho ông D bà H với giá 5. . đồng; có vị trí: Phía Đông giáp đê, phía Tây giáp thổ ông Xuyên, phía Bắc giáp thổ ông Hải, phía Nam giáp thổ ông Thái. Ngày 15-12-2002, ông D bà H giao đủ số tiền đồng thời lập hợp đồng chuyển nhượng với tên gọi “Giấy chuyển nhượng quyền sử dụng đất” và cùng nhau
ết. Tuy nhiên, để giả tiền thuế sang tên, ông D thống N với à Hoa ch ghi trong văn ản hợp đồng giá trị chuyển nhượng là 2. . đồng. Do ông Lệ chết trước đó, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ch ghi tên à Hoa, nên việc
ết văn ản hợp đồng và việc nhận tiền ch có ch
của người đại diện các hộ là ông D và bà Hoa (tức Lệ).
Cùng thời điể , ông D bà H còn nhận chuyển nhượng thửa đất số 5 tờ ản đồ 21 (sau đây viết tắt là thửa đất số 5) của vợ chồng ông Hải bà Sen, liền ề phía Đông thửa đất số 6 nhận chuyển nhượng từ à Hoa. Từ nă 2 3, ông D bà H đã hút đất cát, cải tạo, san lấp cả hai thửa đất số 5 và thửa đất số 6 xây đầ hồ, ua sắ áy óc trang thiết ị nuôi cá, thả tô ; ây hầ chứa than, thức ăn và là nH cấp ốn để ở trông coi từ đó cho đến nay. Do cải tạo, san lấp sử dụng chung nên hiện trạng hông c n nhìn thấy ranh giới gi a hai thửa. Quá trình cải tạo, sử dụng, ây dựng công trình trên đất, ông D bà H hông ị c quan có thẩ quyền ra quyết định đình ch hay quyết định ử phạt vi phạ Hnh chính; gi a ông D bà H, gia đình à Hoa, à Sen hông ảy ra tranh chấp liên quan đến việc sử dụng hai thửa đất.
Do điều iện hó hăn, công việc là ăn hông thuận lợi, nên ngay sau hi nhận chuyển nhượng đất, ông D bà H chưa là thủ tục sang tên. Thời gian sau, ông D bà H nhiều lần yêu cầu à Hoa là thủ tục sang tên, nhưng gia đình bà Hoa nói do sổ đỏ ghi nhận quyền sử dụng đất chung cả hai thửa gồ : Thửa đất đang ở và thửa đất số 6 đã chuyển nhượng và gia đình đã thế chấp sổ đỏ vay vốn tại Ngân Hng. Khoảng từ nă 2 16 đến nay, ông D ị ệnh, đi lại nói năng không c n linh hoạt, gia đình tập trung ch a ệnh cho ông D à hông để đến các việc hác. Ao đầ à H cho ông Tĩnh (e trai ông D) cùng góp vốn nuôi trồng thủy sản, hoạch toán phân chia theo từng vụ.
Do thửa đất số 5 và thửa đất số 6 ị thu hồi để ở đường ộ ven iển, nên ngày 23-4-2 21, UBND ã Hải Chính thông áo cho hộ ông D đến nH văn hóa ó S n Đông, để ý ác nhận diện tích đất, thì ông Khư ng con rể à Hoa cũng đến . Vì cùng thửa đất số 6 à có hai hộ nhận , nên cán ộ Sở Tài nguyên hông cho . Sau đó, à Nh con gái à Hoa là đ n gửi UBND ã Hải Chính đề nghị giải quyết tranh chấp quyền sử dụng đất với ông D bà H.
Ngày 27-4-2 21, UBND ã Hải Chính ời hai ên lên là việc. Khi đó, ông D bà H ới iết, khi nghe tin có tuyến đường ộ ven iển đi qua thửa đất số 6, gia đình à Hoa àn nhau là thủ tục tặng cho toàn ộ thửa đất 6 cho bà Nh là con gái bà Hoa. Bà Nh đã là thủ tục đăng quyền sử dụng đất và được c quan NH nước có thẩ quyền phê duyệt vào trang 4 trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp cho à Hoa từ cuối nă 2 18. Khi là thủ tục tặng cho thửa đất số 6, gia đình à Hoa và c quan NH nước có thẩ quyền hông thông báo, nên ông D bà H hông iết.
Ngoài ra, vì tin tưởng ông Khư ng hứa sẽ lấy sổ đỏ từ Ngân Hng về, để là thủ tục sang tên, nên ông D bà H chủ quan hông có đ n đề nghị UBND ã Hải Chính ngăn chặn từ trước. Thực tế, à Hoa có thế chấp sổ đỏ thửa đất số 6 để vay vốn tại Ngân Hng hay không, vợ chồng ông D bà H hông iết. Tuy nhiên, từ hi ông D bà H nhận chuyển nhượng và sử dụng đến nay, không ai đến tranh chấp và hông thấy Ngân Hng đến thẩ định.
Tại UBND ã Hải Chính, hi được phân tích, gợi , ông D bà H và bà Hoa, ông Khư ng, bà Nh đã thỏa thuận: Khi NH nước đo, iể đế tài sản gắn liền trên đất và đền ù được ao nhiêu thì ông D bà H đứng ra nhận, chia cho bà Hoa 6 % trên tổng số tiền đền ù, gia đình ông D được hưởng 40%. Gia đình à Hoa có trách nhiệ là thủ tục sang tên cho ông D bà H phần đất c n lại sau thu hồi. Giao ông D bà H đứng ra là thủ tục ê hai và nhận đền ù, sau đó chia tiền theo tỷ lệ đã thỏa thuận.
Tuy nhiên, cho đến thời điể hiện nay, thửa đất này vẫn chưa có phư ng án và ế hoạch đền ù cụ thể. H n n a, ông D bà H thấy việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất với à Hoa là công hai, hợp pháp, người dân trong ó ai cũng công nhận, nên thỏa thuận nêu trên hông đả ảo quyền, lợi ích hợp pháp cho ông D bà H nên sau đó, ông D bà H không N trí. Nay ông D bà H hởi iện yêu cầu giải quyết:
1. Công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 15-12-2002 gi a ông D bà H với à Hoa (tức Phạ Thị Lệ) đối với thửa đất số 6, tờ ản đồ số 21 ã Hải Chính diện tích 96 2 đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đứng tên hộ à Nguyễn Thị H1.
2. Tuyên ố giao dịch tặng cho quyền sử dụng thửa đất số 6, tờ ản đồ số 21 ã Hải Chính diện tích 96 2 được lập gi a à Nguyễn Thị H1 với các thừa ế của ông Phạ Văn Lệ và bà Phạ Thị Nh là vô hiệu.
Ông D bà H hông chấp nhận yêu cầu phản tố của à Hoa và quan điể của các thừa ế của ông Lệ về việc hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất lập ngày 15-12-2 2 gi a ông D và bà Hoa. Trường hợp T a án ác định hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất vô hiệu đề nghị giải quyết hậu quả hợp đồng vô hiệu.
* Tại ản tự hai ngày 29-4-2022 và quá trình tố tụng tại T a án, ông Nguyễn Văn Kh là người đại diện theo ủy quyền của ị đ n; ông Khư ng và bà Phạ Thị Nh là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đều trình bày:
Bà Hoa và ông Lệ có tất cả 8 người con gồ : Bà Phạ Thị Khen, à Phạ Thị Ng, ông Phạ Ngọc V, ông Phạ Văn T, ông Phạ Văn N, bà Phạ Thị Nh, ông Phạ Văn T1, bà Phạ Thị T2. Bà Khen chết từ nhỏ, hi chưa lập gia đình; ông Lệ chết nă 1989 hông để lại di chúc; ố ẹ đẻ ông Lệ chết trước ông Lệ.
NH gỗ 5 gian và quyền sử dụng thửa đất 6 diện tích 96 2 là tài sản chung của ông Lệ, à Hoa. Nă 2 , à Hoa ê hai và được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đứng tên bà Hoa. Thực hiện cuộc vận động di dân, à Hoa đã án ngôi nH cổ ằng gỗ 5 gian cho người ở Hải Ph ng, chia cho các con 1 phần tiền và phần c n lại ua đất làm nH tại ó Trung Châu để ở. Khi đó, bà Nh, bà T2, ông T1 c n ở cùng à Hoa, nh ng người con c n lại đã ây dựng gia đình ở riêng.
Sau hi ẹ con à Hoa chuyển về ó Trung Châu ở, ông Khư ng đi là ăn a, ông D đến thỏa thuận với à Hoa, đưa à Hoa nhận 2. . đ và viết giấy đưa à Hoa tên. Bà Hoa ch
à hông đọc nội dung, hiểu là cho ông D ượn đất nuôi trồng thủy, hải sản. Khi nhận tiền và giấy với ông D; bà Hoa không nói, các con à Hoa hông ai iết. Từ nă 2 3, à Hoa cùng vợ chồng ông Khư ng bà Nh thấy ông D bà H úc đất, cải tạo thửa đất của à Hoa cùng với thửa đất liền ề của ông Hải bà Sen để nuôi trồng thủy sản. Vì chưa có nhu cầu sử dụng nên à Hoa, ông Khư ng bà Nh hông tranh chấp với ông D bà H. Từ hi sử dụng đất đến nay, ông D bà H hông đưa thê cho à Hoa ất cứ hoản tiền nào hác.
Vì các anh chị e trong gia đình đều đã ở riêng, điều iện há giả nên hoảng nă 2 18, à Hoa và các anh chị e đã thống N là thủ tục tặng cho bà Nh toàn ộ thửa đất số 6 và thửa đất à Hoa đang ở tại ó Trung Châu, Hải Chính. Thủ tục tặng cho đã hoàn tất. Khi là thủ tục tặng cho, bà Nh, bà Hoa và các con bà Hoa không thông báo cho ông D bà H vì cho rằng hông liên quan đến quyền lợi của ông D bà H. Việc à Hoa ê hai cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nă 2 và việc à Hoa tặng cho bà Nh toàn ộ thửa đất số 6, đến nay à Hoa cũng như các con à Hoa hông ai có iến đề nghị gì.
Tuy nhiên, à Hoa và các con đều hẳng định ch cho ông D bà H ượn thửa đất số 6 sử dụng nuôi tô . Ông D đã trả cho à Hoa số tiền 2. . đồng, à Hoa giấy nhưng hông đọc nên hông iết đã giấy chuyển nhượng. Do vậy, à Hoa và các con bà Hoa không N trí với yêu cầu công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất gi a à Hoa với ông D bà H và không N trí yêu cầu tuyên ố giao dịch tặng cho gi a à Hoa với các thừa ế của ông Lệ và bà Nh vô hiệu.
Nay ông D bà H không N trí với nội dung hai ên đã thỏa thuận tại UBND ã Hải Chính, nên à Hoa yêu cầu hủy hợp đồng chuyển nhượng gi a ông D bà H với à Hoa; gi nguyên hợp đồng tặng cho quyền sử dụng thửa đất số 6 gi a bà Hoa với các thừa ế của ông Lệ và bà Nh; yêu cầu ông D bà H trả lại toàn ộ thửa đất cho bà Nh sử dụng.
* Tại ản tự hai, iên ản lấy lời hai, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Ông Phạ Ngọc V, ông Phạ Văn N, ông Phạ Văn T, ông Phạ Văn T1, bà Phạ Thị Ng, bà Phạ Thị T2 đều có cùng iến, quan điể của bà Nh ông Khư ng. Nay ông D bà H hởi iện, nh ng người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vẫn N trí phư ng án h a giải tại UBND ã Hải Chính; trường hợp ông D bà H không N trí thì đề nghị T a án giải quyết vụ án theo yêu cầu của à Hoa và bà Nh.
* Tại ản tự hai ông Nguyễn Văn Tĩnh trình ày: Ông là e ông D. Từ khi ông D ị ố , sức hỏe yếu hông c n nhanh nhẹn thì à H đã ời ông cùng ỏ vốn sản uất chung, lợi nhuận chia theo vụ, áy óc, tài sản cố định phục vụ sản uất là của ông D bà H; ông hông đóng góp gì. Sau hi ông nộp ản tự khai, theo yêu cầu của T a án thì tô chết, UBND ã có thông áo các hộ dân, hông tiếp tục hai thác để phục vụ công tác giải phóng ặt ằng, nên ông hông c n tài sản gì liên quan tại thửa đất số 5 và thửa đất số 6 n a, toàn ộ tài sản là của ông D bà H. Thời điể hai ên giao dịch nhận chuyển nhượng đất, ông hông iết nhưng suốt quá trình cộng tác, ông hông thấy có ai đến tranh chấp về quyền sử dụng đất. Do hông c n quyền lợi liên quan đến tài sản tranh chấp nên ông đề nghị giải quyết vụ án theo quy định pháp luật.
* Tại biên bản lấy lời hai ngày 1-8-2 22, người là chứng ông Hoàng Văn Xuyên và ông Vũ Văn Đoàn trình ày:
Hộ ông Xuyên, hộ ông Đoàn đều là các hộ có đất liền ề phía Tây và phía Bắc hai thửa đất hiện đang tranh chấp gi a ông D bà H và à Hoa, à Sen. Ở vùng nông thôn Hải Hậu nói chung, phụ n sau hi lập gia đình thường được gọi theo tên chồng à hông gọi tên hai sinh nên à Hoa vợ ông Lệ thường được dân làng gọi là à Lệ.
Khoảng từ nă 2 đến nă 2 4, UBND ã Hải Chính vận động người dân sinh sống ở vùng sát ven chân đê di dời chỗ ở để giả thiểu thiệt hại do thiên tai, hộ nào thuộc diện quá hó hăn có thể được e
t hỗ trợ. Rất nhiều hộ dân đã lên tiếng án nH đất, nhưng thời điể đó rất hó án. Hộ ông Xuyên và hộ ông Đoàn do hông án được nH đất, hông có điều iện chuyển đổi chỗ ở.
Do trước đó, ông D bà H cũng đã canh tác tại vùng â canh lân cận nên hi iết hộ à Hoa, hộ à Sen chuyển chỗ ở, đất đai để hông nên ông D bà H đã ua lại để tiện thể cùng canh tác. Tuy nhiên, việc ông D bà H thỏa thuận, lập hợp đồng với à Hoa cụ thể như thế nào ông Xuyên, ông Đoàn đều hông chứng iến. Từ nă 2 3, ông D bà H đến nhận đất, thuê áy úc đất, đào ao, ây hồ, ây ờ è, ây hầ chứa nước, thức ăn, ây nH cấp ốn ở trông coi đầ hồ. Khi đó, ông Xuyên, ông Đoàn iết ông D, bà H đã nhận chuyển nhượng thổ đất hộ bà Sen chồng là ông Hải với giá 8. . đồng và nhận chuyển nhượng thổ đất hộ à Hoa với giá 5. . đồng. Từ hi nhận đất sử dụng đến nay, gi a ông D bà H và hộ à Hoa, hộ à Sen và các hộ liền ề hông ảy ra tranh chấp liên quan đến quyền sử dụng đất.
Ngoài ra, theo ông Xuyên và ông Đoàn, với trình độ dân trí và tư tưởng đã tHnh lối n của người dân quê thì việc ua án đất đai hầu như do người chủ gia đình đứng ra giao dịch. Vì vậy, tại địa phư ng, trường hợp ua án với thủ tục giấy tờ đ n giản như ông D bà H diễn ra phổ iến. Do đó, ông Xuyên, ông Đoàn đề nghị T a án giải quyết vụ việc theo quy định pháp luật, đả ảo quyền, lợi ích chính đáng của người dân.
Tại ản án dân sự s thẩ số 74/2022/DS-ST ngày 24 tháng 8 nă 2 22 của T a án nhân dân huyện Hải Hậu, t nh Na Định đã quyết định.
Căn cứ các Điều 400, 690, 705, 706, 708, 709, 712, 713 Bộ luật Dân sự nă 1995; Điều 129, 131, 688 Bộ luật Dân sự nă 2 15; Điều 106, 113 Luật Đất đai nă 2 3; điể 3, tiểu ục 2.3 ục 2 phần II Nghị quyết số 02/2004/NQ-HĐTP ngày 1 /8/2 4 của Hội đồng thẩ phán T a án nhân dân tối cao; Nghị quyết số 1/2003/NQ-HĐTP ngày 16/4/2003 của Hội đồng thẩ phán T a án nhân dân tối cao; khoản 1 Điều 227, hoản 1 Điều 228, hoản 2 Điều 229, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự nă 2 15.
1. Chấp nhận ột phần yêu cầu của ông Nguyễn Tiến D và bà Lê Thị H.
2. Tuyên ố Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất lập nă 2 18 gi a bà Nguyễn Thị H1, ông Phạ Văn N, ông Phạ Văn V, ông Phạm Văn T, ông Phạ Văn T1, à Phạ Thị Ng, à Phạ Thị T2 và bà Phạ Thị Nh vô hiệu ột phần.
- Buộc ông Nguyễn Tiến D, bà Lê Thị H phải trả cho bà Phạ Thị Nh số tiền 264. . đồng.
- Buộc à Nguyễn Thị H1 phải trả cho bà Phạ Thị Nh số tiền 616. . đồng.
3. Tuyên ố Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất lập ngày 15-12-2 2 gi a ông Nguyễn Tiến D và bà Nguyễn Thị H1 ị vô hiệu ột phần.
Giao ông Nguyễn Tiến D và bà Lê Thị H được quyền sử dụng thửa đất số 6 tờ ản đồ số 21 ã Hải Chính diện tích 96 m2 (trong đó đất ONT: 160m2; đất CLN: 345 m2; đất NTS: 435 2) theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số S 352491 do UBND huyện Hải Hậu, t nh Na Định cấp ngày 14-9-2000, tên người sử dụng hộ à Nguyễn Thị H1.
4. Buộc ông Nguyễn Văn Kh và à Phạ Thị Nh phải có nghĩa vụ àn giao ản chính giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số S 352491 do UBND huyện Hải Hậu, t nh Na Định cấp ngày 14-9-2 , tên người sử dụng hộ bà Nguyễn Thị H1 cho ông D bà H để ông D bà H là thủ tục tách thửa, sang tên.
Ông D, bà H có nghĩa vụ liên hệ với c quan có thẩ quyền để là thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quyết định của ản án; sau đó có nghĩa vụ trả lại ản chính giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số S 352491 do UBND huyện Hải Hậu, t nh Na Định cấp ngày 14-9-2000 đứng tên hộ bà Nguyễn Thị H1 cho ông Khư ng, à Nh do c n liên quan đến quyền sử dụng các loại đất hác.
Ngoài ra, ản án s thẩ c n tuyên án phí, lệ phí e
t thẩ định tại chỗ, định giá tài sản; lãi suất do chậ thi Hnh ản án và quyền háng cáo của các đư ng sự.
Ngày 6 tháng 9 nă 2 22 à Nguyễn Thị H1 háng cáo toàn ộ ản án s thẩ với l do:
* Cấp s thẩ chấp nhận ột phần yêu cầu của ông D bà H về tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và yêu cầu tuyên ố giao dịch vô hiệu là hông hách quan vì: Giấy chuyển nhượng quyền sử dụng đất ghi ngày 15-12-2 2 vô hiệu toàn ộ, hông phải vô hiệu ột phần; cấp s thẩ ch căn cứ vào lời hai của ông D bà H và 2 nhân chứng là ông Hoàng Văn Xuyên và ông Vũ Văn Đoàn trong hi 2 nhận chứng này hông trực tiếp chứng iến việc giao dịch ua án đất. Cấp s thẩ thừa nhận việc chuyển nhượng 96 2 đất giá 5. . đồng nhưng giấy chuyển nhượng ch ghi 02 triệu đồng để trốn thuế nên hợp đồng chuyển nhượng ngày 15-12-2002 vô hiệu toàn ộ. Nếu việc chuyển nhượng 96 2 đất gi a à Hoa với ông D bà H là 5. . đồng, giấy chuyển nhượng ch ghi 2. . đồng thì ông D bà H c n nợ à Hoa 3. . đồng, việc giao tiền chưa quá 2/3 giá trị hợp đồng nên hợp đồng chuyển nhượng vô hiệu toàn phần. Thửa đất số 6 diện tích 96 2 tại thời điể cấp giấy chứng nhận là cấp cho hộ à Hoa, trong hi đó hộ à Hoa tại thời điể cấp GCNQSDĐ c n có bà Nh, ông T1, bà T2 nhưng việc hợp đồng chuyển nhượng thiếu ch
của 3 người này, ản án công nhận vô hiệu ột phần ằng 540m2 của à Hoa án cho ông D là hông có căn cứ à phải ằng 96 2 : 4 = 215 m2 ới đúng. Cấp s thẩ giao hiện vật cho ông D bà H là hông đúng.
* Bản án s thẩ có dấu hiệu vi phạ tố tụng nghiê trọng, trong việc đánh giá chứng cứ với l do sau: Cấp s thẩ thừa nhận nội dung 2 nhân chứng gián tiếp là ông Hoàng Văn Xuyên và ông Vũ Văn Đoàn nghe ông D nói lại có việc ua án thửa đất giá 5 triệu đồng, nhưng trong giấy ch ghi có 2 triệu đồng. Nhưng lại hông thừa nhận 7 nhân chứng nghe thấy à Hoa cho ông D thuê 960m2 là hông hợp pháp.
* Hợp đồng tặng cho của à Hoa cùng các con cho bà Nh hông vô hiệu ột phần vì: Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 15-12-2002 vô hiệu toàn phần nên à Hoa và các con tặng cho bà Nh thửa đất số 6 diện tích 960m2 ngày 20 -12-2 18 là hợp pháp và hông có lỗi.
Yêu cầu cấp phúc thẩ huỷ ản án s thẩ và chuyển hồ s vụ án cho Toà án s thẩ giải quyết theo thủ tục s thẩ , hông chấp nhận đ n hởi iện của ông D bà H, theo hướng tuyên hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất gi a bà Hoa với ông D bà H vô hiệu và công nhận hợp đồng tặng cho của bà Hoa với các con bà Hoa cho bà Nh là có hiệu lực, uộc ông D bà H phải trả 96 2 đất thuộc cho bà Nh.
Tại phiên toà phúc thẩ , bà H gi nguyên đ n hởi iện và trình ày không N trí háng cáo của à Hoa.
Người đại diện theo uỷ quyền của à Hoa gi nguyên đ n háng cáo của bà Hoa và N trí với lời trình ày của người ảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bà Hoa.
Người ảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của à Hoa trình ày:
Nội dung hởi iện và lời trình ày của à H có nội dung âu thuẫn vi phạ điều cấ quy định Điều 123 BLDS nă 2 15 cụ thể hi có dự án là đường ộ ven iển, gia đình ông D bà H ới quan tâ đến thửa đất số 6, nảy sinh quyền lợi và phản đối việc à Hoa tặng cho thửa đất bà Nh. Nếu Ủy ban nhân dân xã và địa chính ã Hải Chính iết việc à Hoa chuyển nhượng thửa đất số 6 thì đã ngăn chặn việc à Hoa và các con tặng cho à Nh và thông báo cho ông D iết vì ông D là cán ộ UBND ã Hải Chính. Gia đình à Hoa và các con hông tranh chấp với ông D bà H vì các con bà Hoa đều tin ông D bà H thuê đất của à Hoa lâu dài.
Bà H hai có ua đất của à Hoa với giá 5 triệu đồng nhưng lập văn ản án đất ngày 15-12-2 2 giá là 2 triệu đồng có dấu hiệu lừa dối nhằ ục đích trốn thuế là vi phạ quy định tại Điều 123 BLDS nă 2 15 nên giấy viết tay là vô hiệu toàn ộ cả về nội dung và hình thức.
Căn cứ vào hồ s địa chính thửa đất số 6 đứng tên ông Lệ chồng à Hoa, việc à Hoa và các con à Hoa tặng cho thửa đất số 6 cho bà Nh là đúng quy định pháp luật. Pháp luật quy định việc chuyển nhượng phải lập tHnh hợp đồng chuyển nhượng, giấy chuyển nhượng là giấy viết tay là hông hợp pháp.
Bản án s thẩ ác định hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất gi a à Hoa và các con à Hoa với à Nh vô hiệu ột phần là hông đúng.
Bản án s thẩ áp dụng pháp luật hông hách quan có lợi cho ông D bà H, có dấu hiệu vi phạ tố tụng đã căn cứ vào lời hai của người là chứng là ông Đoàn và ông Xuyên thừa nhận việc chuyển nhượng đất là 5 triệu đồng, theo giấy viết tay ông D bà H ới trả 2 triệu đồng cấp s thẩ áp dụng Điều 129 BLDS là hông đúng và giao thửa đất cho ông D bà H là hông có căn cứ. Vì vậy, đề nghị Hội đồng t ử hủy ản án s thẩ và uộc ông D bà H trả lại cho bà Nh 960m2 đất tại thửa đất số 6 tờ ản đồ 21 ã Hải Chính là phù hợp quy định pháp luật.
Kiể sát viên - Viện iể sát nhân dân t nh Na Định phát iểu iến: Về tố tụng, quá trình giải quyết vụ án tại cấp phúc thẩ , Thẩ phán và Hội đồng t ử đã tuân theo các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Các đư ng sự chấp Hnh đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự, quyền lợi của các đư ng sự được ảo đả .
Về đường lối giải quyết vụ án, có căn cứ chấp nhận háng cáo của à Nguyễn Thị H1 đề nghị căn cứ hoản 2 Điều 3 8 BLTTDS, sửa ột phần ản án s thẩ về giải quyết hậu quả hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất vô hiệu ột phần cụ thể uộc à Hoa trả cho ông D bà H là 615. . đồng; uộc ông D bà H phải trả cho chị Nh là 882. . đồng. Án phí giải quyết theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Sau hi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ s vụ án được e t tại phiên toà căn cứ vào ết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng t ử t háng cáo của bà Nguyễn Thị H1:
Về tố tụng: Ông Nguyễn Tiến D có văn ản ủy quyền cho à H tham gia tố tụng giải quyết vụ án tại T a án các cấp nên Hội đồng t ử tiến Hnh xét ử vắng ặt ông D.
Bà Hoa, ông T, ông T1 có văn ản ủy quyền cho ông Nguyễn Văn Kh giải quyết vụ án tại T a án các cấp, nên Hội đồng t ử tiến Hnh t ử vắng ặt à Hoa, ông T, ông T1.
Bà Phạ Thị Nh, à Phạ Thị Ng, ông Phạ Văn N, ông Phạ Ngọc V, à Phạ Thị T2 đã được tống đạt hợp lệ giấy triệu tập phiên t a lần thứ 2 nhưng vắng ặt hông có l do, căn cứ hoản 3 Điều 296 BLTTDS, Hội đồng t ử tiến Hnh t ử vắng ặt họ. Tại phiên t a ông Nguyễn Văn Kh trình bày nh ng người này ủy quyền ằng iệng cho ông Khư ng tha gia tố tụng tại phiên t a phúc thẩ .
Đối với yêu cầu phản tố của ị đ n: Ông D, bà H hởi iện yêu cầu công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất gi a ông D và bà Hoa theo “Giấy nhượng quyền sử dụng đất” lập ngày 15 tháng 12 nă 2 2. Quá trình giải quyết vụ án, à Hoa có yêu cầu tuyên ố hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất gi a ông D và à Hoa là vô hiệu. X t thấy, việc à Hoa yêu cầu tuyên ố hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất vô hiệu cũng cùng quan hệ pháp luật là tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, vì vậy yêu cầu này của ị đ n chính là quan điể phản ác lại yêu cầu hởi iện của nguyên đ n do vậy, cấp s thẩ ác định ị đ n có yêu cầu phản tố là hông đúng quy định tại Điều 2 Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung: Xét giấy nhượng quyền sử dụng đất ngày 15-12-2002:
X t háng cáo về lời trình ày của các nhân chứng: Các nhân chứng ông Hoàng Văn Xuyên và ông Vũ Văn Đoàn trình bày, đều nghe thấy ông D nói lại việc ua thửa đất số 6 diện tích 96 2 với giá 5 triệu đồng; và lời trình ày của các nhân chứng gồ : Ông Nguyễn Văn Trường, ông Lê Văn Tiến, ông Nguyễn Văn Hạnh, à Nguyễn Thị Sen, ông Phạ Văn Đoàn, ông Vũ Văn Tạo, ông Vũ Văn Tạc đều trình bày, có nghe nói bà Hoa cho ông D bà H thuê thửa đất đang tranh chấp sử dụng lâu dài. Hội đồng t ử t thấy, các nhân chứng đều gián tiếp iết việc ông D nhận chuyển nhượng quyền sử dụng thửa đất số 6 của à Hoa và gián tiếp iết việc à Hoa cho ông D bà H thuê thửa đất số 6 sử dụng lâu dài à hông trực tiếp chứng iến việc chuyển nhượng hay cho thuê thửa đất số 6 này.
Tuy nhiên, căn cứ vào giấy nhượng quyền sử dụng đất ghi ngày 15 tháng 12 nă 2 2 bút lục 138 có có nội dung nă 1996 vì điều iện NH nước đắp đê hông ay nH ở của tôi ( à Lệ) gần đê nay phải di dời vào óm Trung Châu để tiện cho việc sinh hoạt và sinh sống. Nay tôi ( à Lệ) thỏa thuận và nhượng lại cho ông Nguyễn Tiến D thổ đất ở ó S n Đông có vị trí phía Đông giáp đê, phía Tây giáp đất nH ông Xuyên, phía Bắc giáp đất ông Hải, phía Na giáp đất ông Thái với số tiền 2. . đồng. Như vậy, có căn cứ ác định ngày 15-12-2 2 gi a à Hoa và ông D có lập văn ản thỏa thuận với nhau về việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất thửa số 6 với giá 2 triệu đồng. Vì vậy, việc ị đ n và các nhân chứng trình ày có việc à Hoa cho ông D thuê thửa đất 6 lâu dài là hông có căn cứ.
Quá trình giải quyết vụ án, ông Phạ Văn N, à Phạ Thị Ng, bà Phạ Thị Nh đều trình ày, ác nhận ch Phạ Thị Lệ tại giấy nhượng đất ngày 15-12-2 2 là ch của à Hoa, nhưng nội dung giấy chuyển nhượng quyền sử dụng đất à Hoa hông đọc nên hông iết nội dung. Tại phiên t a phúc thẩ ông Khư ng trình ày nghe à Hoa nói có vào giấy ngày 15-12-2002 nhưng hông đọc nội dung. Do vậy, ác định ch Phạ Thị Lệ tại giấy nhượng đất ngày 15-12-2 2 là ch của à Hoa (ghi theo họ và tên chồng là Phạ Thị Lệ).
Theo chứng thư nhân dân thể hiện à Hoa có họ là Nguyễn Thị H1, tuy nhiên à Hoa ết hôn với ông Phạ Ngọc Lệ nên lấy họ và tên chồng là Phạm Thị Lệ; ặt hác tại giấy ủy quyền ngày 28-4-2 22 à Hoa tự ghi là Nguyễn Thị H1 (tức Lệ) và ản tự hai của ông Phạ Ngọc T ngày 17-5-2022 và ản tự hai của ông Phạ Văn T1 ngày 17-5-2 22 đều là các con của ông Lệ à Hoa đều thể hiện ố là Phạ Ngọc Lệ, ẹ là Nguyễn Thị H1 (Lệ). Như vậy, có căn cứ ác định à Hoa có tên gọi hác là Lệ và cùng là ột người.
Về giá trị nhận chuyển thửa đất số 6:
Theo giấy chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 15-12-2002 thì à Hoa chuyển nhượng cho ông D thửa đất 6 với giá 2 triệu đồng và à Hoa đã nhận đủ tiền. Quá trình giải quyết vụ án, bà H đều trình bày việc vợ chồng à nhận chuyển nhượng thửa đất số 6 với giá là 5 triệu đồng nhưng để giả thuế sang tên hai ên thống N đã ghi là 2 triệu đồng; c n phía à Hoa hông thừa nhận có việc chuyển nhượng đất. Theo lời trình ày của ông Hoàng Văn Xuyên và lời trình ày của ông Vũ Văn Đoàn phản ánh hi ông D bà H đến nhận đất và thuê áy úc đất, đào ao, ây hồ, ây ờ è, ây hầ chứa thức ăn, ây nH cấp 4 để trông coi đầ hồ thì hi đó ông Đoàn và ông Xuyên iết được ông D bà H đã nhận chuyển nhượng thổ đất của à Hoa với giá 5 triệu đồng. Theo xác minh tại UBND ã Hải Chính cung cấp hoảng từ nă 1996 tình hình thiên tai ão lũ ảnh hưởng nặng nề đến hệ thống đê iển và cuộc sống người dân tại các vùng ven đê, thực hiện sự ch đạo của NH nước về việc vận động các hộ dân đang là ăn sinh sống tại các vùng ven đê di dời đến ó hác a đê, thực tế nhiều người dân có nhu cầu chuyển nhượng nhưng hông tì được người ua, do tình hình hó hăn chung nên giá đất tại địa phư ng trong giai đoạn ể trên là hông lớn. Giá trị chuyển nhượng đất mà ông D bà H đã ê hai phù hợp với lời hai của các hộ lân cận như hộ ông Xuyên, hộ ông Đoàn và phù hợp với giá thị trường tại địa phư ng cùng thời điể . Như vậy, có căn cứ ác định việc chuyển nhượng thửa đất 6 gi a à Hoa và ông D có giá trị 5 triệu đồng là có căn cứ.
Về việc thanh toán giá trị chuyển nhượng quyền sử dụng thửa đất số 6:
X t thấy, giao dịch về quyền sử dụng đất gi a à Hoa và ông D ảy ra từ nă 2 2 và thực tế ông D bà H đã nhận đất và sử dụng đất từ nă 2 2, quá trình sử dụng đất ông D bà H đã cải tạo, san lấp, hút cát, ây hầ chứa than, chứa thức ăn, làm nH để trông coi việc nuôi thủy sản; nhưng à Hoa và các con à Hoa hông có iến gì; trong hi đó, gi a à Hoa và ông D bà H không có quan hệ huyết thống anh e ruột thịt; tại phiên t a và quá trình giải quyết vụ án ông Khư ng và à H đều trình ày, quá trình sử dụng đất ông D bà H không phải thanh toán thêm ất cứ hoản tiền gì cho à Hoa. Do vậy, nếu ông D bà H chưa giao đủ số tiền chuyển nhượng là 5 triệu đồng cho bà Hoa thì bà Hoa và các con à Hoa sẽ có iến và sẽ hông để cho ông D bà H tiếp tục sử dụng đất thửa số 6 để nuôi thủy sản. Do vậy, có căn cứ ác định ông D bà H đã thanh toán ong số tiền nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất thửa số 6.
X t háng cáo về việc giấy nhượng đất ngày 15-12-2002 không có ch
của bà Nh, ông T1, bà T2 và bà Nh, ông T1, bà T2 có công sức đóng góp vào thửa đất.
Quá trình giải quyết vụ án các đư ng sự đều ác định thửa đất số 6 là tài sản chung của ông Lệ à Hoa; à Hoa háng cáo cho rằng tại thời điể cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, hộ à Hoa c n có ông T1, bà Nh và bà T2 cũng có công sức đóng góp vào thửa đất số 6 nhưng hông có tài liệu chứng cứ chứng inh nên hông được chấp nhận.
Căn cứ vào giấy nhượng quyền sử dụng đất ghi số tiền nhận chuyển nhượng là 2 triệu đồng. Theo bà H trình ày việc ghi số tiền 2 triệu đồng để giả thuế sang tên, nhưng thực tế à ông D H chưa là được thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa số 6, nên ục đích giả tiền thuế khi sang tên cho ông D bà H chưa đạt được, nên hông có căn cứ ác định giao dịch chuyển nhượng quyền sử dụng đất gi a ông D với à Hoa ị vô hiệu theo Điều 124 Bộ luật dân sự.
Theo nội dung giấy nhượng quyền sử dụng đất ngày 15-12-2002 hai ên đã thỏa thuận việc à Hoa chuyển nhượng thửa đất số 6 cho ông D và bà Hoa đã nhận đủ tiền, ông D bà H đã nhận quyền sử dụng đất; tuy nhiên theo à H trình ày hai ên thỏa thuận ên nhận chuyển nhượng là ông D có trách nhiệ là thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, nhưng đến nay ông D bà H chưa là thủ tục để sang tên quyền sử dụng thửa đất số 6. X t thấy, việc chuyển nhượng quyền sử dụng thửa đất số 6 các ên thỏa thuận phù hợp với quy định của Bộ luật dân sự nă 2 15 và đang thực hiện, nên căn cứ điể
hoản 1 Điều 688 Bộ luật dân sự nă 2 15 Hội đồng t ử áp dụng các quy định của Bộ luật dân sự nă 2 15 (BLDS) để giải quyết vụ án.
Do thửa đất số 6 có diện tích 96 2 là tài sản chung của ông Lệ à Hoa, nên à Hoa được quyền sử dụng định đoạt ½ thửa đất là 48 2; nă 1989 ông Lệ chết hông để lại di chúc nên phần di sản là quyền sử dụng đất của ông Lệ được chia là 8 ỷ phần gồ à Hoa và 7 người con của ông Lệ à Hoa, nên ỗi ỷ phần được hưởng là 6 2, do vậy à Hoa có quyền sử dụng, định đoạt đối với 54 m2 còn 420m2 đất thuộc quyền sử dụng định đoạt của 7 người con ông Lệ bà Hoa.
Ngày 15-12-2 2 à Hoa chuyển nhượng toàn ộ thửa đất số 6 có diện tích 96 2 cho ông D là vượt quá phần đất à à Hoa được quyền sử dụng định đoạt, nên cấp s thẩ ác định giao dịch chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 15-12-2 2 vô hiệu ột phần đối với 42 2 đất là có căn cứ.
Về giải quyết hậu quả giao dịch chuyển nhượng quyền sử dụng đất vô hiệu:
Do ông D bà H đã quản l sử dụng đất từ nă 2 2, đã cải tạo đất và ây dựng các công trình để nuôi tô cá, xây nH trên đất để trông coi; đồng thời cùng thời điể nhận chuyển nhượng đất của à Hoa thì ông D bà H còn nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất của à Sen (ông Hải đã chết) và cải tạo san lấp sử dụng chung nên hiện trạng hông nhìn thấy ranh giới gi a hai thửa đất, do vậy cấp s thẩ giao toàn ộ thửa đất số 6 cho ông D bà H sử dụng là phù hợp quy định của pháp luật.
Về ác định thiệt hại: Giá trị chuyển nhượng quyền sử dụng thửa đất số 6 diện tích 96 2 tại thời điể nă 2 2 là 5. . đồng nên 1 2 có giá trị là 5.2 8 đồng; 42 2 có giá trị là 2.187.36 đồng. Theo ết quả định giá 1m2 đất tranh chấp tại thời điể giải quyết vụ án có giá trị là 2.1 . đồng nên 420m2 đất có giá trị là 882. . đồng. Thiệt hại là 882. . đồng - 2.187.36 đồng = 879.812.64 đồng.
Về ác định ức độ lỗi: Nă 2 2 hi à Hoa và ông D giao dịch chuyển nhượng quyền sử dụng thửa đất số 6, thì ông Lệ đã chết từ nă 1989, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ghi cấp cho hộ à Hoa, nên ông D căn cứ vào giấy chứng nhận quyền sử dụng đất để nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất đối với à Hoa. Trong hoảng thời gian dài từ nă 2 3 đến nay, ông D, bà H liên tục hai thác, cải tạo đất phát triển sản uất nuôi thủy sản nhưng à Hoa và các con à Hoa đều hông iến tranh chấp gì. Nă 2 18, à Hoa và các con lại là thủ tục tặng cho toàn ộ thửa đất này cho bà Nh là con gái nhưng không thông báo cho ông D, bà H. Bản thân vợ chồng ông Khư ng, bà Nh trực tiếp chung sống với à Hoa nhiều nă nay cũng hông có iến gì về việc à Hoa chuyển nhượng đất; iết việc ông D bà H đang trực tiếp sử dụng đất nhưng vẫn tiến Hnh thủ tục tặng cho à hông thông áo cho ông D bà H. Do đó, cấp s thẩ ác định, à Hoa phải chịu 7 % lỗi và ông D bà H phải chịu 30% lỗi là có căn cứ; thiệt hại à Hoa phải chịu tư ng ứng với ức độ lỗi là 615.868. đồng; thiệt hại ông D bà H phải chịu tư ng ứng ức độ lỗi là 263.943. đồng.
X t háng cáo về hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất:
Nă 2 18, à Hoa và các con ông Lệ gồ : Ông N, ông V, ông T, ông T1, bà Ng, bà T2 đã là thủ tục tặng cho quyền sử dụng thửa đất số 6 cho bà Phạ Thị Nh. Do 540m2 đất à Hoa có quyền sử dụng định đoạt đã chuyển nhượng cho ông D bà H nên hợp đồng tặng cho ị vô hiệu đối với phần đất của bà Hoa; còn 420m2 đất thuộc quyền sử dụng của các con ông Lệ gồ : Ông N, ông V, ông T, ông T1, bà Ng, bà T2 và bà Nh. Quá trình giải quyết vụ án, các con ông Lệ gồ ông N, ông V, ông T, ông T1, bà Ng, bà T2 đều hông có iến đề nghị gì đối với giao dịch tặng cho, N trí tặng cho ỷ phần được hưởng cho bà Nh, do vậy hợp đồng tặng cho có hiệu lực đối với 42 2 - 60m2 đất (là ỷ phần của bà Nh được hưởng). Do hợp đồng tặng cho hông có thiệt hại nên hông e
t về thiệt hại đối với các ên.
Do toàn ộ thửa đất số 6 được giao cho ông D bà H sử dụng như nhận định ở phần trên; à Hoa giao dịch chuyển nhượng quyền sử dụng đất vượt quá quyền sử dụng định đoạt của ình là 420m2 đất, đồng thời các con ông Lệ đều N trí tặng cho à Nh ỷ phần thừa ế được hưởng nên à Hoa phải trả cho bà Nh theo giá trị ức độ lỗi là 615.868. đồng.
Do ông D bà H cũng có lỗi trong giao dịch chuyển nhượng quyền sử dụng 420m2 đất nên à H phải thanh toán cho các con ông Lệ theo giá trị ức độ lỗi, nhưng do các con ông Lệ đều N trí tặng cho bà Nh ỷ phần thừa ế được hưởng nên uộc ông D bà H phải thanh toán cho bà Nh số tiền theo ức độ lỗi là 263.943. đồng.
Từ nh ng phân tích trên, Hội đồng t ử t thấy hông có căn cứ chấp nhận háng cáo của à Nguyễn Thị H1 và lời trình ày của người ảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của à Hoa.
Án phí dân sự phúc thẩ : Do háng cáo của bà Hoa hông được chấp nhận nên à Hoa phải nộp án phí dân sự phúc thẩ nhưng à Hoa là người cao tuổi nên căn cứ điể đ hoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2 16/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy an thường vụ quốc hội quy định về ức thu, iễn, giả , thu, nộp, quản l và sử dụng án phí và lệ phí T a án, Hội đồng t ử iễn án phí dân sự phúc thẩ cho bà Hoa.
Án phí dân sự s thẩ : Do yêu cầu hởi iện của ông D bà H được chấp nhận ột phần nên ông D bà H phải nộp án phí dân sự s thẩ không có giá ngạch là 3 . đồng.
Ông D, bà H phải chịu án phí có giá ngạch đối với hoản tiền phải thanh toán cho bà Nh là 263.943. đồng, án phí ông D bà H phải nộp là 263.943. đồng 5% = 13.197.00 đồng. Tổng số tiền án phí ông D bà H phải nộp là 13.497. đồng; được đối trừ với số tiền đã nộp tạ ứng là 6 . đồng số tiền ông D bà H c n phải nộp là 12.897. đồng.
Bà Hoa là người cao tuổi có đ n in iễn án phí, căn cứ điể đ hoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2 16/UBTVQH14 ngày 3 /12/2 16 của Ủy an thường vụ quốc hội quy định về ức thu, iễn, giả , thu, nộp, quản l và sử dụng án phí và lệ phí T a án, Hội đồng t ử iễn án phí dân sự s thẩ cho bà Hoa.
Các quyết định hác của ản án s thẩ hông có háng cáo, háng nghị đã có hiệu lực ể từ ngày hết thời hạn háng cáo, háng nghị cấp phúc thẩ hông e
t giải quyết.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ hoản 2 Điều 3 8 BLTTDS; Điều 500, 501, 502, 129, 131, 688 Bộ luật Dân sự nă 2 15; Điều 2 3 Luật đất đai nă 2 13; Nghị quyết số 326/2 16/UBTVQH14 ngày 3 tháng 12 nă 2 16 của Ủy an thường vụ quốc hội quy định về ức thu, iễn, giả , thu, nộp, quản l và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Sửa ản án s thẩ .
1. Không chấp nhận kháng cáo của bà Nguyễn Thị H1.
2. Chấp nhận một phần yêu cầu hởi iện của ông Nguyễn Tiến D và bà Lê Thị H.
3. Tuyên ố giao dịch chuyển nhượng quyền sử dụng thửa đất số 6 tờ ản đồ số 21 ã Hải Chính diện tích 96 m2 lập ngày 15-12-2 2 gi a ông Nguyễn Tiến D và bà Nguyễn Thị H1 vô hiệu ột phần.
4. Tuyên ố hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất lập nă 2 18 gi a bà Nguyễn Thị H1, ông Phạ Văn N, ông Phạ Văn V, ông Phạm Văn T, ông Phạ Văn T1, à Phạ Thị Ng, à Phạ Thị T2 với bà Phạ Thị Nh đối với thửa đất số 6 tờ ản đồ số 21 ã Hải Chính diện tích 96 m2 vô hiệu ột phần.
5. Giao cho ông D và bà H được quyền sử dụng thửa đất số 6 tờ ản đồ số 21 ã Hải Chính diện tích 96 m2 (trong đó đất ONT: 160m2; đất CLN: 345 m2; đất NTS: 435 2) theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số S 352491 do UBND huyện Hải Hậu, t nh Na Định cấp ngày 14-9-2 , tên người sử dụng hộ à Nguyễn Thị H1.
- Buộc ông D, bà H phải trả cho bà Nh số tiền 263.943. đồng.
- Buộc à Hoa phải trả cho bà Nh số tiền 615.868. đồng.
Kể từ ngày ản án có hiệu lực pháp luật hoặc ể từ ngày có đ n yêu cầu thi Hnh án à người phải thi Hnh án chưa thi Hnh đối với số tiền phải thi Hnh án thì phải trả lãi đối với số tiền chưa thi Hnh án theo ức lãi suất quy định tại hoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự.
6. Buộc ông Nguyễn Văn Kh và à Phạ Thị Nh phải có nghĩa vụ àn giao ản chính giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số S 352491 do UBND huyện Hải Hậu, t nh Na Định cấp ngày 14-9-2000, tên người sử dụng hộ bà Nguyễn Thị H1 cho ông Nguyễn Tiến D, bà Lê Thị H để ông D, bà H là thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quyết định của ản án.
Ông D, bà H có quyền liên hệ với c quan NH nước có thẩ quyền để là thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quyết định của ản án; sau đó ông D bà H có nghĩa vụ trả lại ản chính giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số S 352491 do UBND huyện Hải Hậu, t nh Na Định cấp ngày 14-9-2000 đứng tên hộ bà Nguyễn Thị H1 cho ông Khư ng, à Nh do c n liên quan đến quyền sử dụng các loại đất hác.
7. Về chi phí tố tụng: Nguyên đ n, ị đ n ỗi ên phải nộp 5.000.000đồng chi phí e
t, thẩ định tại chỗ, chi phí định giá tài sản. Xác nhận ông Nguyễn Tiến D, bà Lê Thị H đã nộp đủ; uộc à Nguyễn Thị H1 phải trả cho ông Nguyễn Tiến D, bà Lê Thị H số tiền 5. . đồng đồng chi phí đo đạc, e
t thẩ định, định giá tài sản.
8. Án phí dân sự phúc thẩ : Miễn án phí dân sự phúc thẩ cho à Hoa.
9. Án phí dân sự s thẩ : Ông D bà H phải nộp 3 . đồng án phí dân sự s thẩ hông có giá ngạch và 13.197. đồng án phí có giá ngạch. Tổng cộng án phí ông D, bà H phải nộp là 13.497. đồng nhưng được trừ số tiền tạ ứng án phí đã nộp 6 . đồng tại iên lai số
6153 ngày 29 tháng 4 nă 2 22 tại Chi cục Thi Hnh án dân sự huyện Hải Hậu. Ông D, bà H c n phải nộp 12.897. đồng.
Bà Nguyễn Thị H1 được iễn án phí dân sự s thẩ .
Trong trường hợp ản án, quyết định được thi Hnh theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi Hnh án dân sự thì người được thi Hnh án dân sự, người phải thi Hnh án dân sự có quyền thoả thuận thi Hnh án, quyền yêu cầu thi Hnh án, tự nguyện thi Hnh án hoặc ị cưỡng chế thi Hnh án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 của Luật Thi Hnh án dân sự; thời hiệu thi Hnh án được thực hiện theo quy định tại Điều 3 của Luật Thi Hnh án dân sự.
Bản án phúc thẩ có hiệu lực thi Hnh ể từ ngày tuyên án.
THNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Mai Thị Minh Hồng
Lại Văn Tùng
Vũ Thị Thu
| Nơi nhận: - Các đư ng sự; - VKSND t nh Na Định; - TAND huyện Hải Hậu; - Chi cục THADS huyện Hải Hậu; - Hồ s vụ án; - Lưu VT. | TM. HỘI Đ NG XÉT X PH C THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Vũ Thị Thu |