vanban.org

Bản án 85/2021/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Qui Nhơn, tỉnh Bình Định Tuyên án 26/05/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn S phạm tội “Gây rối trật tự công cộng”.

Giao bị cáo Nguyễn Văn S cho Ủy ban nhân dân xã H, thành phố Q, tỉnh Bình Định quản lý, giáo dục. Thời hạn thi hành án tính từ ngày Ủy ban nhân dân xã H nhận được bản án và quyết định thi hành án. Gia đình bị cáo Nguyễn Văn S có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân xã H trong việc giám sát, giáo…

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Gây rối trật tự công cộng - phạm tội gây rối trật tự công cộng (điều 318 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn S phạm tội “Gây rối trật tự công cộng”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ Q
TỈNH BÌNH ĐỊNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 85/2021/HS-ST
Ngày: 26 - 5 - 2021

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ Q-TỈNH BÌNH ĐỊNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phan Minh Dũng

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Ron

2. Bà Hoàng Thị Thành

- Thư kY phiên tòa: Ông Phạm Minh Chánh - Thư kY của Toà án nhân dân TP. Q.

- Đ diện Viện kiểm sát nhân dân TP. Q tham gia phiên tòa: Ông Phan Tiến Lực - Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 5 năm 2021 tại trụ sở Tòa án nhân dân TP. Q, tỉnh Bình Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lY số 60/2021/TLST-HS ngày 07/4/2021, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 130/2021/QĐXXST-HS ngày 06/5/2021 đối với bị cáo:

Nguyễn Văn S (Tư), sinh năm 1988 tại TP. Q, Bình Định; nơi cư trú: Thôn H, xã H, TP. Q, tỉnh Bình Định; nghề nghiệp: Làm biển; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; trình độ học vấn: 9/12; con ông: Nguyễn Văn L, sinh năm 1963; con bà: Đoàn Thị Ngọc , sinh năm 1963; vợ: Nguyễn Thị Lệ H, sinh năm 1990; con: 02 người, lớn nhất sinh năm 2010, nhỏ nhất sinh năm 2016; tiền án: Không; tiền sự: Ngày 29/11/2019, bị Công an xã H, TP. Q xử phạt hành chính 200.000 đồng về hành vi “Gây mất trật tự khu dân cư”; bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”; có mặt tại phiên tòa.

- Người làm chứng:

1. Anh Phạm Thanh M, sinh ngày: 11/12/2005

Người dại diện hợp pháp của anh M là bà Cao Thị N (mẹ ruột).

Cùng trú tại: Thôn Đ, xã H, TP. Q, Bình Định.

2. Anh Phan Anh Đ, sinh ngày: 17/10/2005

Người đại diện hợp pháp của anh Đ là bà Phạm Thị Minh Đ (mẹ ruột)

Cùng trú tại: Thôn H, xã H, TP. Q, Bình Định.

3. Anh Nguyễn Quang H, sinh ngày 10/8/2005

Người đại diện hợp pháp của anh H là bà Nguyễn Thị G (mẹ ruột)

trú tại: Thôn Đ, xã H, TP. Q, Bình Định.

4. Anh Đỗ Thanh T, sinh ngày 22/02/2005

Người Đ diện hợp pháp của anh T là bà Nguyễn Thị Đ (mẹ ruột).

Cùng trú tại: Thôn Đ, xã H, TP. Q, Bình Định.

5. Anh Nguyễn Huỳnh Trung K, sinh ngày 07/4/2001

Trú tại: Thôn H, xã H, TP. Q, Bình Định

6. Anh Trần Tấn Đ1, sinh ngày 11/9/2002

Trú tại: Thôn Đ, xã H, TP. Q, Bình Định

7. Trần Thanh P, sinh năm: 2001

Trú tại: Thôn H, xã H, TP. Q, Bình Định.

8. Anh Nguyễn Hữu N, sinh ngày 13/11/2002

Trú tại: Thôn Đ, xã H, TP. Q, Bình Định

9. Anh Trần Quốc Q, sinh ngày 17/7/2002

Trú tại: Thôn Đ, xã H, TP. Q, Bình Định

10. Chị Lê Thị Như Y, sinh năm 1990

Trú tại: Thôn Đ, xã H, TP. Q, Bình Định

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 23 giờ 30 phút ngày 23/8/2020, Nguyễn Huỳnh Trung K rủ Phạm Thanh M và Phan Anh Đ đi tìm đánh Nguyễn Quang H vì trước đó H có đánh nhóm bạn của K. Khi đến quán nhậu Ken Pháp của chị Lê Thị Như Y ở thôn Đ, H, TP. Q, thấy H đang ngồi nhậu chung cùng với Trần Tấn Đ1, Trần Thanh P, Đỗ Thanh T, Nguyễn Hữu N, Trần Quốc Q cùng trú tại Đ, H, TP. Q nên K điều khiển xe mô tô chở M và Đ tông vào bàn H đang ngồi. H và nhóm bạn mình kịp né tránh. K xuống xe nói “Tụi bay đòi đánh ai” rồi xông vào dùng tay đánh nhau với H, Đ1 thì bị H, Đ1 cầm vỏ chai bia Q ném trúng đuôi mày phải gây thương tích. Sau đó, Đ1 tiếp tục cầm vỏ chai bia bị vỡ đánh lại K làm K bị rách da vùng ngực. M thấy vậy nên chạy đến nhà của Nguyễn Văn S (anh họ của K) ở gần đó nói “Anh Tư, thằng K bị mấy đứa đánh ở quán Ken Pháp anh lên đưa nó về”, nghe vậy nên S một mình điều khiển xe mô tô chạy đến quán Ken Pháp. Thấy K bị thương tích nên hỏi “Ai đánh mày”, K chỉ tay về nhóm của H và nói “Mấy thằng kia nè anh Tư”. S chạy xe đến, lút đó Trần Tấn Đ1 chạy đến chỗ xe mô tô chuẩn bị chạy đi thì bị S chặn lại nói “Thằng nào đánh em tao”, Đ1 nói lại “Do em của anh đánh tụi em trước”, thì S dùng tay đánh vào mặt Đ1. Ngay sau đó, S lấy 01 vỏ chai bia bị vỡ, cầm phần cổ chai trên tay quay lại thì Đ1 điều khiển xe mô tô bỏ chạy. S quay sang chỗ những người bạn còn lại của nhóm Đ1 thì Nguyễn Quang H, Đỗ Thanh T, Nguyễn Hữu N bỏ chạy. Lúc này, Trần Quốc Q, Trần Thanh P cũng chạy ra ngồi lên xe mô tô để bỏ chạy thì S đuổi đến; Q điều khiển xe chạy thoát; P khởi động xe nhưng không được nên bị S cầm vỏ chai bia đâm trúng 01 nhát vào vùng cổ trái gây thương tích. P kêu cứu rồi điều khiển xe chạy thoát được 01 đoạn thì bị té ngã. S tiếp tục quay lại rượt nhóm của Trần Tấn Đ1 nhưng không kịp. Lúc này, người dân thấy sự việc nên can ngăn S lại, đưa P đi cấp cứu; S cũng đưa K đến Bệnh viện đa khoa tỉnh Bình Định cấp cứu. Đến ngày 31/8/2020, Trần Thanh P xuất viện có đơn yêu cầu khởi tố vụ án hình sự; ngày 26/8/2020, Nguyễn Huỳnh Trung K xuất viện và không yêu cầu khởi tố vụ án hình sự.

Ngày 15/9/2020, Cơ quan CSĐT Công an TP. Q tiến hành trưng cầu giám định thương tật đối với Trần Thanh P và Nguyễn Huỳnh Trung K và tiến hành dẫn giải P, K đi giám định nhưng cả 02 từ chối.

Quá trình điều tra đã xác định, vào ngày 29/11/2019, Nguyễn Văn S bị Công an xã H, TP. Q xử phạt hành chính 200.000 đồng về hành vi “Gây mất trật tự khu dân cư”; đồng thời vào ngày 28/8/2020, Ủy ban nhân dân xã H, TP. Q có báo cáo đề nghị xử lý nghiêm hành vi của Nguyễn Văn S.

Bản cáo trạng số 70/CT-VKSQN ngày 30/3/2021 Viện kiểm sát nhân dân TP. Q truy tố bị cáo Nguyễn Văn S về tội “Gây rối trật tự công cộng” theo quy định tại khoản 1 Điều 318 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Bị cáo Nguyễn Văn S thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như Cáo trạng đã truy tố nên Viện kiểm sát nhân dân thành phố Q giữ N quyết định truy tố đối với bị cáo về tội “Gây rối trật tự công cộng”. Áp dụng khoản 1 Điều 318; điểm i, s khoản 1, 2 Điều 51, Điều 36 Bộ luật hình sự. Đề nghị HĐXX xử phạt bị cáo Nguyễn Văn S từ 12 (mười hai) đến 18 (mười tám) tháng cải tạo không giam giữ, không khấu trừ thu nhập đối với bị cáo

Bị cáo tự bào chữa: Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội, không bào chữa.

Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo xin HĐXX giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Q, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Q, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, tại phiên tòa, bị cáo không có Y kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Văn S khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như quyết định truy tố của Viện kiểm sát, phù hợp với lời khai tại Cơ quan điều tra và các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, do đó Hội đồng xét xử có đủ cơ sở xác định: Vào khoảng 23 giờ 50 phút ngày 23/8/2020 khi biết sự việc em họ (con chú ruột bị cáo) của bị cáo S là Nguyễn Huỳnh Trung K bị nhóm Nguyễn Quang H, Trần Tấn Đ1, Trần Thanh P, Đỗ Thanh T, Nguyễn Hữu N, Trần Quốc Q đánh gây thương tích tại quán nhậu Ken Pháp ở Thôn Đ, xã H, Tp. Q nên bị cáo S đã có hành vi đuổi đánh nhóm của Nguyễn Quang H, Trần Tấn Đ1, Trần Thanh P, Đỗ Thanh T, Nguyễn Hữu N, Trần Quốc Q gây Thương Tích cho anh Trần Thanh P. Bản thân bị cáo S là người đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Gây mất trật tự khu dân cư” vào ngày 29/11/2019, nay lại tiếp tục có hành vi rượt đánh nhiều người tại Thôn Đ, xã H, Tp. Q là nơi tập trung dân cư, gây náo động làm mất trật tự, ảnh hưởng đến tình hình an ninh chính trị và trật tự trị an của khu dân cư, gây tâm lY hoang mang lo sợ cho người dân. Vì vậy, hành vi của bị cáo S đã phạm vào tội “Gây rối trật tự công cộng”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 318 Bộ luật Hình sự 2015. Do đó, Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Q đã truy tố bị cáo về tội danh và điều luật như Cáo trạng đã nêu là có căn cứ, đúng pháp luật.

Xét về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ của bị cáo thì thấy rằng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng; Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân xấu, đã từng bị đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Gây mất trật tự khu dân cư” vào ngày 29/11/2019; Tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 BLHS nên xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để bị cáo an tâm cải tạo tốt, sớm tái hòa nhập với cộng đồng.

Hình phạt: Căn cứ quy định của Bộ luật hình sự; cân nhắc tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội; tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân bị cáo. Hội đồng xét xử nhận thấy, tại phiên tòa Kiểm sát viên đề nghị áp dụng tội danh, loại, mức hình phạt đối với bị cáo là phù hợp, cần phải xử phạt bị cáo mức hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội mà bị cáo đã gây ra theo quy định tại khoản 1 Điều 318 Bộ luật hình sự. Bị cáo phạm tội ít nghiêm trọng, có nơi cứ trú rõ ràng, có nhiều tình tiết giảm nhẹ, không có tình tiết tăng nặng, xét thấy không cần phải các ly bị cáo ra khỏi xã hội mà chỉ cần áp dụng loại hình phạt là cải tạo không giam giữ là đủ điều kiện răn đe giáo dục bị cáo. Bị cáo có nghề nghiệp là làm biển, thu nhập không ổn định nên HĐXX quyết định không khấu trừ thu nhập đối với bị cáo.

Đối với Nguyễn Quang H, Trần Tấn Đ1 có hành vi dùng vỏ chai bia ném, đánh gây thương tích cho Nguyễn Huỳnh Trung K; Nguyễn Văn S có hành vi dùng vỏ chai bia gây thương tích cho Trần Thanh P nhưng cả 02 đã không yêu cầu khởi tố vụ án hình sự và từ chối giám định thương tích nên Cơ quan CSĐT Công an TP. Q không xử lý hành vi của H, Đ1, S về tội “Cố Y gây thương tích” là đúng quy định pháp luật.

Đối với Nguyễn Huỳnh Trung K, Phạm Thanh M, Phan anh Đ, Nguyễn Quang H, Trần Tấn Đ1, Trần Thanh P, Đỗ Thanh T, Nguyễn Hữu N, Trần Quốc Q có hành vi đánh nhau tại nơi công cộng nhưng thời gian diễn ra nhanh, chưa đến mức gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự an toàn xã hội tại địa phương và những người này chưa bị xử lý hành chính, chưa bị kết án về tội “Gây rối trật tự công cộng” nên Cơ quan CSĐT Công an TP. Q không xử lý hình sự mà xử lý hành chính là có căn cứ, đúng pháp luật

Về án phí: Bị cáo bị kết án về tội “Gây rối trật tự công cộng” nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 135, khoản 2 Điều 136 BLTTHS; Luật phí và lệ phí, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn S phạm tội “Gây rối trật tự công cộng”.

2. Áp dụng khoản 1 Điều 318, điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 36 Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Nguyễn Văn S 12 (mười hai) tháng cải tạo không giam giữ.

Giao bị cáo Nguyễn Văn S cho Ủy ban nhân dân xã H, thành phố Q, tỉnh Bình Định quản lý, giáo dục. Thời hạn thi hành án tính từ ngày Ủy ban nhân dân xã H nhận được bản án và quyết định thi hành án. Gia đình bị cáo Nguyễn Văn S có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân xã H trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.

Người bị kết án cải tạo không giam giữ phải thực hiện những nghĩa vụ quy định tại Luật thi hành án hình sự. Không khấu trừ thu nhập đối với bị cáo

3. Về án phí: Áp Dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội; Buộc bị cáo Nguyễn Văn S phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

4. Quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày tính từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ