- Tranh chấp gì? án hình sự — "Phạm Thanh C - phạm tội cướp giật tài sản (điều 171 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Phạm Thanh C phạm tội “Cướp giật tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Luật Phí và lệ phí
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 7 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 85/2021/HS-ST Ngày: 02/11/2021 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 7 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đào Lê Anh.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Hòa Bình;
Ông Ngô Hữu Quang.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Phương Thúy – Thư ký Toà án nhân dân Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Hồ Thị Huệ - Kiểm sát viên.
Ngày 02 tháng 11 năm 2021, tại phòng xử án Tòa án nhân dân Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh đã mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 121/2021/HSST ngày 24 tháng 8 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 134/QĐXXST-HS ngày 04 tháng 10 năm 2021 đối với bị cáo:
Họ và tên: Phạm Thanh C, tên gọi khác: không; sinh năm 1991 tại Thành phố Hồ Chí Minh; giới tính: nam; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: 122/13/16 đường A, Phường B, Quận 4, Thành phố Hồ Chí Minh; nơi cư trú: 38 đường B, khu phố C, phường D, Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: không; trình độ học vấn: 08/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: kinh; tôn giáo: không; con ông Phạm Thanh N và bà Nguyễn Thị Hà C; bị cáo chưa có vợ con; tiền án: không; tiền sự: quyết định số 107/2018/QĐ-TA ngày 22/8/2018 của Tòa án nhân dân Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc với thời gian 21 tháng; nhân thân: bản án số 137/2008/HS-ST ngày 23/12/2008 của Tòa án nhân dân Quận 4, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 02 năm tù về tội “Cướp giật tài sản”; bản án số 96/2012/HS-ST ngày 22/6/2012 của Tòa án nhân dân Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 03 năm 06 tháng tù về tội “Cướp giật tài sản”; Bị bắt tạm giam ngày 02/04/2021 – Có mặt.
Bị hại: Ông Lê Viết C, sinh năm 1981
- 1 -
Địa chỉ: 753/2A2 đường A, khu phố C, phường F, Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh - Vắng mặt.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Ông Phạm Thanh N, sinh năm 1967; địa chỉ: 295BIS đường F, Phường G, Quận 4, Thành phố Hồ Chí Minh - Vắng mặt.
2. Bà Đỗ Thị H, sinh năm 1949; địa chỉ: 38 đường G, khu phố H, phường K, Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh - Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội
dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 19 giờ 40 phút ngày 02/4/2021, Phạm Thanh C điều khiển xe máy hiệu Air Blade, biển số 59C1-182.46 khi đi đến trước nhà số 30/98A Lâm Văn Bền, Khu phố 4, phường Tân Kiểng, Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh thì nhìn thấy ông Lê Viết C đang ngồi trên xe máy đậu trước địa chỉ trên, trên tay đang cầm điện thoại sử dụng nên C nảy sinh ý định chiếm đoạt chiếc điện thoại của anh C. C điều khiển xe máy bất ngờ áp sát dùng tay trái giật điện thoại của ông C rồi tăng ga tẩu thoát. Ông C tri hô “Cướp, cướp” và chạy bộ đuổi theo C đến trước địa chỉ nhà số 30/45 Lâm Văn Bền, Khu phố 4, phường Tân Kiểng, Quận 7 thì xe của C va vào xe thu gom rác, ngã xuống đường nên bị người dân xung quanh khống chế, bắt giữ cùng tang vật đưa về Công an phường Tân Kiểng xử lý.
Theo bản kết luận định giá số 189/KL-HĐĐGTTHS ngày 24/5/2021 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự Quận 7: 01 điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy A30S, đã qua sử dụng, giá trị tài sản: 3.300.000 (ba triệu ba trăm nghìn) đồng.
Tại Cơ quan quan cảnh sát điều tra Công an Quận 7, Phạm Thanh C đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên.
Vật chứng vụ án:
- 01 (một) điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy A30S, màu xanh đen, do Phạm Thanh C cướp giật của ông Lê Viết C. Cơ quan cảnh sát điều tra Công an Quận 7 đã trả lại tài sản cho ông Lê Viết C.
- 01 (một) xe máy hiệu Air Blade, biển kiểm soát: 59C1-182.46, số máy JF27E0975192, số khung 2709BY150925. Qua xác minh, chủ sở hữu chiếc xe này là ông Phạm Thanh N, địa chỉ: 295 BIS, đường F, Phường G, Quận 4 TP. Hồ Chí Minh. Ngày 21/01/2021, ông Phạm Thanh N có Hợp đồng ủy quyền cho Đỗ Thị H, sinh năm 1949 được toàn quyền sử dụng và mua bán đối với chiếc xe trên. Bà Đỗ Thị H khai cho C mượn xe đi mua nước mía, không biết C sử dụng xe đi cướp giật tài sản.
- 2 -
Bản cáo trạng số: 104/CT-VKSQ7 ngày 20/8/2021 Viện kiểm sát nhân dân Quận 7 đã truy tố bị cáo Phạm Thanh C về tội “Cướp giật tài sản” theo điểm d khoản 2 Điều 171 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa bị cáo khai nhận hành vi phạm tội của mình.
Trong phần tranh luận đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 7 vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm d khoản 2 Điều 171; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017: Xử phạt bị cáo từ 03 (ba) năm 06 (Sáu) tháng đến 04 (bốn) năm tù.
Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại ông Lê Viết C đã nhận lại điện thoại, không có yêu cầu gì thêm, tại phiên tòa vắng mặt nên không xét.
Xử lý vật chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử xử lý theo quy định của pháp luật.
Bị cáo khai nhận hành vi cướp giật tài sản phù hợp với nội dung bản cáo trạng đã được tóm tắt như trên, không tự bào chữa, không tranh luận và đã thể hiện sự ăn năn hối cải, đề nghị được giảm nhẹ hình phạt.
Căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an Quận 7, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Quận 7, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, các đương sự không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan cảnh sát điều tra và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, thể hiện:
Vào khoảng 19 giờ 40 phút ngày 02/4/2021 bị cáo Phạm Thanh C điều khiển xe máy hiệu Air Blade, biển số 59C1-182.46. Khi đi đến trước nhà số 30/98A Lâm Văn Bền, Khu phố 4, phường Tân Kiểng, Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh, phát hiện người bị hại Lê Viết C đang ngồi trên xe máy đậu
- 3 -
trước địa chỉ trên, trên tay đang cầm điện thoại sử dụng nên C nảy sinh ý định chiếm đoạt chiếc điện thoại. C điều khiển xe máy bất ngờ áp sát dùng tay trái giật điện thoại của ông C rồi tăng ga tẩu thoát. Ông C tri hô “Cướp, cướp” và chạy bộ đuổi theo đến trước địa chỉ nhà số 30/45 Lâm Văn Bền, Khu phố 4, phường Tân Kiểng, Quận 7 thì xe của C va vào xe thu gom rác, ngã xuống đường nên bị người dân xung quanh khống chế, bắt giữ cùng tang vật đưa về Công an phường Tân Kiểng xử lý.
Theo Kết luận định giá tài sản số: 189/KL-HĐĐGTTHS ngày
24/5/2021 của Hội đồng Định giá tài sản tố tụng hình sự Quận 7, kết luận: “01 điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy A30S, đã qua sử dụng, giá trị tài sản là 3.300.000 (Ba triệu ba trăm nghìn) đồng.”. Hành vi này của bị cáo đã phạm vào tội “Cướp giật tài sản” được quy định tại điểm d khoản 2 Điều 171 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 như Viện kiểm sát nhân dân Quận 7 đã truy tố là có căn cứ, đúng pháp luật.
Bản thân bị cáo là người nghiện ma túy, để có tiền tiêu xài và mua ma
túy sử dụng bị cáo đã thực hiện hành vi phạm tội cố ý, táo bạo và liều lĩnh. Hành vi này là rất nghiêm trọng, nguy hiểm vì đã xâm phạm trực tiếp đến tài sản sở hữu hợp pháp của công dân, gây hoang mang về mặt tinh thần cho người bị hại, gây mất trật tự trị an, an toàn giao thông đường bộ. Hành vi vừa điều khiển xe máy vừa cướp giật tài sản của người khác, sau đó nhanh chóng tẩu thoát khỏi sự truy đuổi là thủ đoạn phạm tội nguy hiểm có khả năng gây nguy hại đến tính mạng, sức khỏe, tài sản của người khác, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự, trị an xã hội. Vì vậy, cần phải xử lý nghiêm bằng biện pháp hình sự để răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung trong xã hội.
Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Các tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tiền án; bị cáo có 01 tiền sự theo Quyết định số 107/2018/QĐ-TA ngày 22/8/2018 của Tòa án nhân dân Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc với thời gian 21 tháng. Ngoài ra bị cáo có nhân thân xấu: bản án số 137/2008/HS-ST ngày 23/12/2008 của Tòa án nhân dân Quận 4, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 02 năm tù về tội “Cướp giật tài sản”; bản án số 96/2012/HS-ST ngày 22/6/2012 của Tòa án nhân dân Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 03 năm 06 tháng tù về tội “Cướp giật tài sản”.
Các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo phạm tội nhưng chưa gây thiệt hại vì tài sản chiếm đoạt đã được thu hồi trả cho người bị hại; trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải. Vì vậy, Hội đồng xét xử áp dụng Điểm h, s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.
- 4 -
Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại đã nhận lại tài sản, quá trình điều tra không có yêu cầu gì, tại phiên tòa vắng mặt nên không xét.
Về xử lý vật chứng:
- 01 chiếc điện thoại Samsung Galaxy A30S là tài sản của ông Lê Viết C. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 7 đã trả lại cho ông Cần là có căn cứ.
- 01 chiếc xe gắn máy: nhãn hiệu: honda; số loại: AIR BLADE FI; màu sơn: đen bạc; số máy: JF27E0975192; số khung: RLHJF2709BY150925 do ông Phạm Thanh N đứng tên chủ sở hữu. Ông N đã ủy quyền toàn quyền sử dụng chiếc xe trên cho bà Đỗ Thị H (là mẹ vợ của ông N). Bị cáo mượn xe của bà H sử dụng vào việc riêng, bà H không biết bị cáo sử dụng xe vào mục đích phạm tội. Tại phiên tòa bà H yêu cầu nhận lại chiếc xe để làm phương tiện di chuyển. Hội đồng xét xử, xét thấy yêu cầu trên của bà H là có căn cứ nên trả lại chiếc xe trên cho bà Đỗ Thị H.
Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố bị cáo Phạm Thanh C phạm tội “Cướp giật tài sản”.
1. Áp dụng điểm d khoản 2 Điều 171; điểm h, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017:
Xử phạt: Phạm Thanh C 04 (bốn) năm tù.
Thời hạn tù tính từ ngày 02/4/2021.
2. Áp dụng Điều 47, Điều 48 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự năm 2015:
Trả lại 01 chiếc xe gắn máy biển số 59C1-182.46; nhãn hiệu: honda; số loại: AIR BLADE FI; màu sơn: đen bạc; số máy: JF27E0975192; số khung: RLHJF2709BY150925 cho bà Đỗ Thị H.
(Theo Biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản số: 122 ngày 19/8/2021 của Chi cục thi hành án dân sự Quận 7).
2. Về án phí: Căn cứ vào các Điều 135, 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Luật Phí và lệ phí; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 (hai trăm nghìn) đồng.
3. Về quyền, nghĩa vụ thi hành án: Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự năm 2008
- 5 -
được sửa đổi bổ sung năm 2014 thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
4. Về quyền kháng cáo: Trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày Tòa tuyên án bị cáo, các đương sự có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm đến Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh. Các đương sự vắng mặt tại phiên tòa thì được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được được niêm yết theo quy định pháp luật.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - TAND Tp. HCM; - Sở Tư pháp Tp. HCM; - VKSND Quận 7; - Công an Quận 7; - Chi cục THADS Q.7; - Bị cáo, các đương sự; - Lưu: sổ án, VT, hồ sơ (Thúy). - 6 - | Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa (Đã ký và đóng dấu) Đào Lê Anh |