vanban.org

Bản án 85/2021/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Lộc Ninh, tỉnh Bình Phước Tuyên án 10/12/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trom - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN LỘC NINH
TỈNH BÌNH PHƯỚC

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 85/2021/HS-ST
Ngày: 10/12/2021

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỘC NINH, TỈNH BÌNH PHƯỚC

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Ông Lê Thành Liêm

Các hội thẩm nhân dân 1. Ông Đỗ Văn Quang

2. Bà Ngô Thị Thùy Trang

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Kỷ- Thư ký Tòa án

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lộc Ninh tham gia phiên tòa: Ông Cao Thanh Nam- Kiểm sát viên .

Ngày 10 tháng 12 năm 2021 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Lộc Ninh, tỉnh Bình Phước xét xử vụ án hình sự thụ lý số 80/2021/TLST-HS ngày 11/11/2021, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 81/2021/QĐXXST-HS ngày 25/11/2021 đối với:

Bị cáo Trần Quang Kh, sinh năm 1990 tại Bình Phước; Tên gọi khác: Chết; Nơi cư trú: Ấp Thạnh Trung, xã Lộc Thạnh, huyện Lộc Ninh, tỉnh Bình Phước; Nghề nghiệp: không; Trình độ học vấn: 2/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Trần Quang Lượng, sinh năm 1946 và bà Lê Thị Nhành, sinh năm 1956; vợ Viên Thị Liên, sinh năm 1989. Bị cáo có 03 người con lớn nhất sinh năm 2009 nhỏ nhất sinh năm 2018.

Tiền án: Ngày 04/6/2020 bị Tòa án nhân dân huyện Lộc Ninh, tỉnh Bình Phước xử phạt 09 tháng tù về tội trộm cắp tài; Tiền sự: không.

Bị cáo tại ngoại có mặt tại phiên tòa.

Bị Viện kiểm sát nhân dân huyện Lộc Ninh truy tố về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự.

Bị hại: Nông trường II- Công ty TNHH một thành viên cao su Lộc Ninh.

Người đại diện theo pháp luật: Ông Lâm Quốc Tiến, chức vụ Giám đốc

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Thái Hùng Lâm, chức vụ Trợ lý TTBV nông trường II (vắng mặt)

Địa chỉ: Nông trường II -Công ty TNHH một thành viên cao su Lộc Ninh.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Trần Thị L, sinh năm 1983 (có mặt)

Địa chỉ: ấp Thạnh Trung, xã Lộc Thạnh, huyện Lộc Ninh, tỉnh Bình Phước.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 16 giờ 00 phút ngày 03/8/2021, Trần Quang Kh điều khiển xe mô tô Wave màu đen, biển số: 93T5-8256 từ ấp Thạnh Trung, xã Lộc Thạnh, huyện Lộc Ninh đến khu vực xã Lộc Hòa để tìm tài sản trộm cắp. Khi đến lô cao su thuộc tổ 4, Nông trường 2, Công ty TNHH một thành viên cao su Lộc Ninh, thuộc ấp 8, xã Lộc Hòa, huyện Lộc Ninh thì Kh phát hiện hàng rào kẽm gai bằng kim loại trong khu vực lô cao su không ai trông coi nên Kh nảy sinh ý định trộm cắp, sau đó Kh chạy xe mô tô để tại khu vực nhà hoang cách hàng rào kẽm gai khoảng 15 mét rồi đi bộ đến hàng rào, dùng 01 kìm bằng kim loại dài 20cm, cán bọc nhựa dài 13cm để cắt dây kẽm. Trong lúc Kh đang cắt và quấn kẽm gai thì anh Nguyễn Chung (là bảo vệ Nông trường 2) phát hiện và trình báo công an xã Lộc Hòa. Nhận được tin báo, tổ tuần tra Công an xã Lộc Hòa đến khu vực trên bắt quả tang Kh đang thực hiện hành vi phạm tội, thu giữ 17,5 kg dây kẽm gai.

Tại kết luận định giá tài sản số: 51/KL-HĐĐGTSTTHS ngày 03/8/2021 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Lộc Ninh kết luận 01 cuộn kẽm gai bằng kim loại màu trắng khối lượng 17,5kg bằng 87.500 đồng.

Tại Bản cáo trạng số 79/CT-VKS ngày 10/11/2021 Viện kiểm sát nhân dân huyện Lộc Ninh, tỉnh Bình Phước truy tố bị cáo Trần Quang Kh về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định điểm b khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát thực hành quyền công tố đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Trần Quang Kh phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Áp dụng điểm b khoản 1 điều 173, điểm h,s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung bổ sung năm 2017.

Xử phạt bị cáo Trần Quang Kh mức án từ 09 đến 12 tháng tù.

Bị cáo không tranh luận, không kêu oan.

Lời nói sau cùng của bị cáo trước khi Hội đồng xét xử nghị án: Bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận thấy:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Lộc Ninh, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Lộc Ninh và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra và truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo đúng quy định của Bộ luật tố tụng hình sự, đảm bảo quyền, lợi ích hợp pháp của bị cáo và những người tham gia tố tụng.

Tại phiên tòa bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại về thời gian, địa điểm nơi xảy ra vụ án và toàn bộ tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, có đủ căn cứ xác định:

Khoảng 17 giờ 00 phút, ngày 03/8/2021 Trần Quang Kh đang dùng kìm cắt dây kẽm gai của nông trường II thuộc Công ty TNHH một thành viên cao su Lộc Ninh, tại lô B, vườn cây 207 thuộc tổ 4 của nông trường thì bị ông Nguyễn Chung phát hiện báo Công an xã Lộc Hòa đến lập biên bản phạm tội quả tang, thu giữ vật chứng chuyển Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Lộc Ninh xử lý.

Động cơ phạm tội của bị cáo xuất phát từ lòng tham thấy tài sản để ở nơi vắng vẻ không có người trông coi đã lấy trộm ý định bán lấy tiền tiêu xài. Trong lúc đang thực hiện hành vi trộm đã bị phát hiện.

Hành vi lén lút khi không thấy người quản lý tài sản, bị cáo nảy sinh ý định lấy trộm và khi đang dùng kìm cắt dây kẽm, thấy công an đến bị cáo ném cây kìm đi nhằm che dấu hành vi phạm tội nhưng vẫn bị phát hiện.

Khi bị phát hiện bắt quả tang, bị cáo đã cắt được 17,5kg kẽm gai trị giá 87.500 đồng. Giá trị tài sản rất nhỏ nhưng trước đó, bị cáo đã bị TAND huyện Lộc Ninh xử phạt 09 tháng tù về tội trộm cắp tài sản, bị cáo đã chấp hành án xong nhưng chưa được xóa án tích.

Điều 173. Tội trộm cắp tài sản

1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

a)…

b) Đã bị kết án về tội này hoặc về một trong các tội quy định tại các điều 168, 169, 170, 171, 172, 174, 175 và 290 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm; Như vậy, tuy bị cáo đang thực hiện hành vi trộm cắp tài sản và giá trị chỉ là 87.500 đồng nhưng năm 2020 bị cáo đã bị kết án về tội trộm cắp tài sản, chưa được xóa án tích lại tiếp tục hành vi phạm tội. Đối chiếu với điểm b khoản 1 Điều 173 thì hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội trộm cắp tài sản.

Viện kiểm sát nhân dân huyện Lộc Ninh truy tố bị cáo về tội trộm cắp tài sản theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự là có căn cứ.

Tại thời điểm thực hiện hành vi phạm tội cũng như tại phiên tòa công khai, bị cáo là người đã thành niên, có đủ năng lực trách nhiệm hình sự.

Hành vi của bị cáo đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của nông trường II thuộc Công ty TNHH một thành viên cao su Lộc Ninh được pháp luật hình sự bảo vệ, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự tại địa phương, bị cáo thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý. Do đó, cần có một hình phạt tương xứng.

Xét về nhân thân: Bị cáo có 01 tiền án chưa được xóa án tích, sau khi phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, tài sản chiếm đoạt có giá trị không lớn, đã thu hồi và trả cho bị hại, nên bị cáo được áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiện hình sự quy định tại điểm h,s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lộc Ninh đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với bị cáo là cần thiết.

Về vật chứng vụ án: số kẽm gai đã thu hồi trả lại cho bị hại.

Đối với 01 xe mô tô kiểu dáng Wave, màu đen, biển số 93T5-8256, số khung: RMKWCH6UM7K602001, số máy: VKVLMP52FMH-602001, Kh sử dụng để làm phương tiện thực hiện hành vi phạm tội. Qua xác minh là tài sản hợp pháp của chị Trần Thị L, chị L không biết việc Kh sử dụng xe mô tô để làm phương tiện phạm tội, cần trả lại cho chị Trần Thị L.

Đối với 01 cây kim bằng kim loại dài 20cm, cán bọc nhựa dài 13cm là công cụ dùng vào việc phạm tội không có giá trị tịch thu tiêu hủy.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại không yêu cầu bồi thường gì khác nên không xem xét.

Về án phí: Bị cáo phải chịu theo luật định.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về tội danh:

Tuyên bố bị cáo Trần Quang Kh phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

2. Về điều luật áp dụng và mức hình phạt:

Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 173, điểm h,s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017.

Xử phạt bị cáo Trần Quang Kh 06 (Sáu) tháng tù. Thời gian tính tù từ ngày bắt thi hành án.

3. Vật chứng vụ án:

Áp dụng điểm a khoản 2, khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Trả cho chị Trần Thị L 01 xe mô tô kiểu dáng Wave, màu đen, biển số 93T5-8256, số khung: RMKWCH6UM7K602001, số máy: VKVLMP52FMH-602001 và 01 giấy đăng ký mô tô, xe máy số 032825.

Tịch thu tiêu hủy 01 cây kìm bằng kim loại dài 20cm, cán bọc nhựa dài 13cm.

( Biên bản giao nhận vật chứng số 006878 ngày 10/12/2021 của chi cục thi hành án dân sự huyện Lộc Ninh)

4. Về án phí:

Áp dụng Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự 2015, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án của Ủy ban thường vụ Quốc Hội:

Bị cáo Trần Quang Kh phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo:

Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án để yêu cầu Tòa án cấp trên xét xử phúc thẩm.

Đối với bị hại vắng mặt tại phiên tòa, thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết theo qui định. Nơi nhận:

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

- TAND tỉnh Bình Phước;

THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

- VKSND tỉnh Bình Phước -VKSND huyện Lộc Ninh

- Bị cáo và đương sự;

- Bộ phận HSNV CA Lộc Ninh;

- Phòng HSNC CA tỉnh Bình Phước;

- Chi cục THADS huyện Lôc Ninh;

- Lưu hồ sơ.

Lê Thành Liêm THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Thành viên hội đồng xét xử

Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa

Cỡ chữ