vanban.org

Bản án 85/2021/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Hóc Môn, TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 30/06/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Minh T phạm tội “Cướp giật tài sản”.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Minh T 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 13/01/2021. Buộc bị cáo phải bồi thường cho chị Hà Thị Minh Th số tiền 3.200.000đ (ba triệu hai trăm ngàn đồng). Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "cướp giật tài sản - phạm tội cướp giật tài sản (điều 171 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Minh T phạm tội “Cướp giật tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN HÓC MÔN
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 85/2021/HS-ST
Ngày: 30/6/2021

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÕA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÕA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÓC MÔN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Đỗ Thị Phương Nam

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Huỳnh Văn Đẹp.

Bà Lê Thị Khanh.

Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Nguyệt Nga – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn, TP. Hồ Chí Minh.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn, TP. Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Thanh Hải - Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 6 năm 2021 tại Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 83/2021/HSST ngày 20 tháng 5 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 109/2021/QĐXXST-HS ngày 16/6/2021 đối với bị cáo:

Nguyễn Minh T - sinh năm: 2001 tại Thành phố Hồ Chí Minh; Giới tính: Nam; Thường trú: Quốc lộ A, Khu phố B, phường T, Quận X, Tp. Hồ Chí Minh; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ h c v n: 9/12; Nghề nghiệp: Không; Con ông Nguyễn Nhã Đ và bà Đỗ Thị L; Bị cáo chưa có vợ con; Tiền án: không; Tiền sự: không; Bị cáo bị bắt ngày 13/01/2021, bị tam giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Hóc Môn; Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

Người bị hại: Chị Hà Thị Minh Th (vắng mặt).

Địa chỉ: D, Tổ A, p Tr, xã Th, huyện H, TP Hồ Chí Minh.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 13 giờ 00 phút ngày 13/01/2021, Nguyễn Minh T và đối tượng tên B (chưa xác định lai lịch) gặp nhau tại quán cà phê Bạch Đằng thuộc phường Trung Mỹ Tây, Quận 12, Tp.Hồ Chí Minh. B rủ T đi cướp giật tài sản, T đồng ý. T điều khiển xe máy biển số 59L2-49531 chở B đi tìm người để cướp giật tài sản. Khi lưu thông trên đường Lê Thị Hà đến trước Ngân hàng VP Bank, khu phố 8, thị tr n Hóc Môn, huyện Hóc Môn hướng từ Quốc lộ 22 về đường Quang Trung, B phát hiện chị Hà Thị Minh Th ngồi trên xe máy dừng sát lề đường, và đang sử dụng điện thoại di động nên B chỉ cho T. T điều khiển xe quay lại rồi từ phía sau áp sát vào xe của chị Th để B ngồi phía sau chồm lên dùng tay phải giật điện thoại của chị Th. Sau khi giật được điện thoại, B nói T chạy đi, T tăng tốc độ tẩu thoát, chị Th truy hô đuổi theo, B ngồi sau dùng bình hơi cay xịt về phía chị Th, nghe tiếng chị Th truy hô, anh Phạm Nguyễn Cao Tr hỗ trợ đuổi theo, anh Tr dùng xe mô tô chặn đầu xe của T và B làm cả hai đối tượng cùng xe máy ngã xuống đường. T và B bỏ xe chạy bộ vào nhà dân trốn, cùng lúc này có lực lượng Cảnh sát giao thông công an huyện Hóc Môn đang điều tiết giao thông gần đó đến hỗ trợ truy đuổi và bắt quả tang Nguyễn Minh T đang trốn trong nhà số K tổ N, khu phố V, thị tr n Hóc Môn.

Riêng đối tượng B bỏ chạy thoát cùng điện thoại di động hiệu Oppo Reno 2F cướp giật của chị Th. Nguyễn Minh T khai B là bạn h c của T tại trường trung h c cơ sở Nguyễn An Ninh. Qua xác minh tại trường Nguyễn An Ninh có h c sinh Dương Vũ B, sinh năm 2001, cư ngụ G, Khu phố L, phường Tr, Quận P, Tp.Hồ Chí Minh là h c sinh lớp 9A12 năm h c 2015 - 2016. Tuy nhiên qua xác minh tại Công an phường Trung Mỹ Tây, Quận 12 thì không có ai tên Dương Vũ B đăng ký lưu trú, tạm trú hay thường trú tại địa chỉ nêu trên. Cơ quan điều tra đã ra thông báo truy tìm B nhưng chưa có kết quả.

Tại Kết luận định giá tài sản số 69/KL-HĐĐGTS ngày 29/4/2021 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự, định giá 01 điện thoại di động hiệu Oppo Reno 2F có giá là 3.200.000đồng.

Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Hóc Môn, Nguyễn Minh T khai nhận hành vi cùng B cướp giật điện thoại của chị Th như đã nêu trên. Đối với việc B dùng bình xịt hơi cay xịt vào bị hại khi bị truy đuổi, T không biết B c t gi u B xịt hơi cay từ khi nào và cũng không nghe B bàn bạc gì.

Vật chứng thu giữ:

- Xe máy hiệu Suzuki Raider mang biển số 59L2-495.31, số khung RLSDL11ANHV104201, số máy CGA1504180, qua xác minh xe do anh Trang Hùng C đứng tên chủ sở hữu. Anh C ủy quyền cho anh Giang Chí H được thay mặt quản lý, sử dụng, nhận tiền bảo hiểm rút hồ sơ gốc, cho thuê, bán, tặng cho, thanh lý… đối với chiếc xe này. Ngày 02/12/2020, anh Giang Chí H lập hợp đồng ủy quyền (có công chứng) cho Nguyễn Minh T các quyền đã được anh C ủy quyền. T khai mua xe từ anh H nhưng không làm hợp đồng mua bán mà lập hợp đồng ủy quyền. T sử dụng xe vào việc phạm tội. Anh C cũng khai có sự việc bán xe cho T.

Tại bản Cáo trạng số 85/CT-VKS - HM ngày 19/5/2021, Viện Kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn đã truy tố ra trước Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn để xét xử bị cáo Nguyễn Minh T về tội “Cướp giật tài sản” theo quy định tại điểm d khoản 2 Điều 171 Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn sau khi nêu lại nội dung vụ án, phân tích tính ch t, mức độ hành vi phạm tội và hậu quả do hành vi của bị cáo đối với người bị hại và đối với xã hội đồng thời nêu lên tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo đã đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm d khoản 2 Điều 171; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 xử phạt bị cáo Nguyễn Minh T từ 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng đến 04 (bốn) năm 06 (sáu) tháng tù. Về trách nhiệm dân sự, đề nghị ghi nhận việc bị cáo tự nguyện bồi thường số tiền 3.200.000đồng cho bị hại. Về xử lý vật chứng, đề nghị tịch thu nộp ngân sách nhà nước một xe gắn máy hiệu Suzuki Raider, mang biển số 59L2-495.31, số khung RLSDL11ANHV104201, số máy CGA1504180.

Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận hành vi như luận tội của đại diện Viện kiểm sát, bị cáo xin được giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÕA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Các hành vi, quyết định tố tụng của những người tiến hành tố tụng, cơ quan tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015. Người bị buộc tội và những người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại về các hành vi, quyết định tố tụng của những người tiến hành tố tụng, cơ quan tiến hành tố tụng. Như vậy, các hành vi, quyết định tố tụng của những người tiến hành tố tụng, cơ quan tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.

[2] Lời khai của bị cáo Nguyễn Minh T phù hợp với lời khai của người bị hại, người làm chứng, vật chứng cùng các tài liệu, chứng cứ khác do cơ quan điều tra thu thập được có trong hồ sơ của vụ án. Vì vậy, đủ cơ sở kết luận vào ngày 13/01/2021, bị cáo Nguyễn Minh T đã có hành vi điều khiển xe máy biển số 59L2-495.31 áp sát vào xe của chị Hà Thị Minh Th để đồng b n ngồi phía sau chồm lên dùng tay phải giật điện thoại của chị Th và nhanh chóng tẩu thoát. Hành vi công khai nhanh chóng chiếm đoạt tài sản của người khác rồi tẩu thoát của bị cáo đã đủ yếu tố c u thành tội “Cướp giật tài sản”, tội danh và hình phạt được quy định tại Điều 171 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 (sau đây g i tắt là Bộ luật hình sự). Bị cáo dùng xe máy để cướp giật tài sản của người khác là đã dùng thủ đoạn nguy hiểm để thực hiện hành vi phạm tội theo quy định tại điểm d khoản 2 Điều 171 Bộ luật hình sự. Viện kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố để xét xử bị cáo theo điều luật đã viện dẫn trên là đúng người, đúng tội, nên buộc bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự theo luật định.

[3] Khi quyết định hình phạt đối với bị cáo, Hội đồng xét xử có xem xét:

[3.1] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.

[3.2] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải do đó Hội đồng xét xử áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.

[3.3] Hành vi phạm tội của bị cáo là táo bạo và thực sự nguy hiểm cho xã hội, thể hiện ý thức xem thường pháp luật, xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu về tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ, gây ảnh hưởng x u đến trật tự trị an ở địa phương, gây hoang mang, lo ngại cho quần chúng nhân dân và dư luận x u trong xã hội. Vì vậy, Hội đồng xét xử nhận định cần áp dụng mức hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội và cần cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian nhằm răn đe, giáo dục đối với bị cáo cũng như phòng ngừa chung cho xã hội.

[4] Đối với đối tượng tên Dương Vũ B, Cơ quan Cảnh sát điều tra vẫn đang tiếp tục truy tìm, khi nào tìm được sẽ làm rõ, xử lý sau.

[5] Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ Kết luận định giá tài sản thì 01 điện thoại di động hiệu Oppo Reno 2F có giá trị là 3.200.000đồng. Bị cáo đồng ý bồi thường cho chị Th nên Hội đồng xét xử ghi nhận và buộc bị cáo phải bồi thường cho chị Th số tiền 3.200.000đồng.

[6] Về xử lý vật chứng:

Đối với xe máy hiệu Suzuki Raider, màu sơn đen, mang biển số 59L2-495.31, số khung RLSDL11ANHV104201, số máy CGA1504180, xe không bửng, không kiếng, xe đã qua sử dụng: Xe này của bị cáo mua nhưng bị cáo không làm hợp đồng mua bán mà lập hợp đồng ủy quyền. Bị cáo sử dụng xe vào việc phạm tội nên căn cứ điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử quyết định tịch thu, nộp ngân sách nhà nước.

[7] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000đồng và án phí dân sự sơ thẩm 300.000đồng.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

1. Căn cứ điểm d khoản 2 Điều 171; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017):

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Minh T phạm tội “Cướp giật tài sản”.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Minh T 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 13/01/2021.

2. Căn cứ Điều 584, Điều 585, Điều 589 Bộ luật dân sự 2015 và Điều 48 Bộ luật hình sự 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017):

Buộc bị cáo phải bồi thường cho chị Hà Thị Minh Th số tiền 3.200.000đ (ba triệu hai trăm ngàn đồng).

Kể từ ngày chị Hà Thị Minh Th có đơn yêu cầu thi hành án mà bị cáo không thi hành khoản tiền nêu trên thì bị cáo còn phải chịu khoản tiền lãi theo mức lãi su t quy định tại Điều 357, Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015, tương ứng với thời gian và số tiền chưa thi hành án.

3. Căn cứ Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015:

Tịch thu, nộp ngân sách nhà nước một xe máy hiệu Suzuki Raider, màu sơn đen, mang biển số 59L2-495.31, số khung RLSDL11ANHV104201, số máy CGA1504180, xe không bửng, không kiếng, xe đã qua sử dụng (đồ vật được ghi theo Biên bản giao, nhận vật chứng ngày 18/5/2021 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Hóc Môn và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hóc Môn).

4. Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về quy định về án phí, lệ phí Tòa án:

Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm là 200.000đ (hai trăm ngàn đồng) và án phí dân sự sơ thẩm là 300.000đ (ba trăm ngàn đồng).

5. Căn cứ Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015

Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành, tự nguyện thi hành án, hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ