- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn C phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều c…"
- Tòa quyết gì? Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn C 14 (mười bốn) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt thi hành án.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐP THÀNH PHỐ HÀ NỘI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản số: 85/2021/HS-ST Ngày: 26- 10- 2021. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐP, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Hà
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Sen
Ông Nguyễn Văn Hùng
- Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Như Hoàng Hải - Thư ký Tòa án nhân dân huyện ĐP, Thành phố Hà Nội.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện ĐP, Thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Mai - Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 10 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện ĐP, Thành phố Hà Nội, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 82/2021/TLST- HS ngày 05 tháng 10 năm 2021, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 85/2021/QĐXXST- HS ngày 14 tháng 10 năm 2021, đối với:
- Bị cáo: Nguyễn Văn C, sinh năm 1979 tại Thành phố Hà Nội; nơi cư trú và ĐKHKTT: Tổ dân phố ĐB 2, phường TC, quận BTL, Thành phố Hà Nội; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: Lớp 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn Ng (đã chết), con bà Nguyễn Thị L; có vợ và có 02 con, con lớn sinh năm 2007, con nhỏ sinh năm 2009; tiền án, tiền sự: không; danh bản, chỉ bản số 222 do Công an huyện ĐP, Thành phố Hà Nội lập ngày 16/6/2021; bị cáo bị tạm giữ từ ngày 16/6/2021 đến ngày 15/6/2021; tạm giam: Không. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ có liên quan đến vụ án: Chị Nguyễn Thị H, sinh năm 1984; nơi cư trú: Tổ dân phố ĐB 2, phường TC, quận BTL, Thành phố Hà Nội; có mặt.
- Người làm chứng: Anh Trần Đức L1, sinh năm 1989; nơi cư trú: Cụm 4, xã TL, huyện ĐP, Thành phố Hà Nội; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- 1 -
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 11 giờ 00 phút ngày 06/6/2021, Nguyễn Văn C điều khiển xe máy nhãn hiệu Honda Wave màu đỏ- đen, biển kiểm soát 29Z6- 7107 đi từ nhà ở tại tổ dân phố ĐB 2, phường TC, quận BTL, thành phố Hà Nội đến khu vực đường Hạ Hội thuộc địa phận xã TL, huyện ĐP để mua một gói ma túy của một người đàn ông không quen biết với giá 200.000 đồng để sử dụng. Khi C đang cầm gói ma túy định đi tìm nơi để sử dụng thì bị Công an huyện ĐP bắt quả tang, thu giữ trong lòng bàn tay trái của C một gói bột màu trắng kích thước 01x 02cm, C khai là ma túy heroine vừa mua.
Tại cơ quan điều tra, Nguyễn Văn C khai nhận bắt đầu sử dụng ma túy heroine từ đầu năm 2020 bằng cách hít vào cơ thể và bị phụ thuộc vào ma túy nên C đi mua ma túy heroine về để sử dụng cho bản thân, ngoài ra C không có ý định sử dụng số ma túy mua được vào mục đích nào khác. Toàn bộ số ma túy mua được bị cáo chưa kịp sử dụng thì đã bị phát hiệu và thu giữ. Chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Wave màu đỏ- đen, biển kiểm soát 29Z6- 7107 mà C điều khiển đi mua ma túy là tài sản chung của vợ chồng bị cáo mua để sử dụng chung trong gia đình. Số tiền 200.000 đồng để mua ma túy là tiền của bị cáo tích cóp được do lao động mà có.
Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện ĐP đã trưng cầu giám định đối với chất bột màu trắng đựng trong một gói giấy báo nhỏ, kích thước khoảng 1cm x 2cm thu giữ được của Nguyễn Văn C, đã được niêm phong theo đúng quy định. Tại kết luận giám định số 4639/KLGĐ- PC09 ngày 13/6/2019 của Phòng kỹ thuật hình sự, Công an Thành phố Hà Nội kết luận: Chất bột màu trắng bên trong 01 gói giấy kiểu giấy báo là ma túy loại Heroine, khối lượng 0,110 gam.
Bản Cáo trạng số 84/CT-VKS- ĐP ngày 01/10/2021, Viện kiểm sát nhân dân huyện ĐP, Thành phố Hà Nội truy tố Nguyễn Văn C về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa: Bị cáo Nguyễn Văn C khai nhận toàn bộ hành vi của mình như đã khai trong quá trình điều tra. Bị cáo tỏ ra hối hận và xin Hội đồng xét xử khoan hồng, giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án là chị Nguyễn Thị H trình bày, chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Wave màu đỏ- đen, biển kiểm soát 29Z6- 7107 là tài sản chung của vợ chồng chị mua từ năm 2008 để làm phương tiện đi lại chung của cả gia đình. Chị không biết chồng mình đã dùng xe để đi mua ma túy. Chị đề nghị HĐXX cho chị được nhận lại chiếc xe để chị sử dụng.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện ĐP thực hành quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên quan điểm truy tố hành vi của bị cáo Nguyễn Văn C về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo từ 12 tháng tù đến 15 tháng tù; Không áp dụng hình
- 2 -
phạt bổ sung đối với bị cáo. Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, đề nghị tịch thu tiêu hủy toàn bộ số ma túy heroine còn lại sau giám định; trả lại cho chị Nguyễn Thị H chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Wave màu đỏ- đen, biển kiểm soát 29Z6- 7107.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Vụ án xảy ra tại địa bàn huyện ĐP, Thành phố Hà Nội nên thẩm quyền khởi tố điều tra, truy tố và xét xử thuộc các cơ quan tố tụng của huyện ĐP, Thành phố Hà Nội. Trong quá trình điều tra, truy tố, Điều tra viên và Cơ quan điều tra, Kiểm sát viên và Viện kiểm sát nhân dân huyện ĐP đã thực hiện trình tự tố tụng, nội dung và các căn cứ để ban hành các văn bản và quyết định tố tụng đúng theo qui định của Bộ luật Tố tụng hình sự.
. Tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Văn C đã khai nhận rõ hành vi phạm tội phù hợp với nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố. Các lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra và được chứng minh bằng lời khai của người làm chứng và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ xác định: Nguyễn Văn C là đối tượng nghiện chất ma túy. Khoảng 11 giờ 00 phút ngày 06/6/2021, C điều khiển xe máy nhãn hiệu Honda Wave màu đỏ- đen, biển kiểm soát 29Z6-7107 đi đến khu vực đường Hạ Hội thuộc Cụm 5, xã Tân Hội, huyện ĐP mua 01 gói ma túy loại heroine có trọng lượng 0,110 gam với giá 200.000 đồng của một người đàn ông không quen biết để sử dụng. C cầm gói ma túy trong lòng bàn tay trái và trong khi đang đi tìm chỗ để sử dụng ma túy thì bị lực lượng Công an huyện ĐP kiểm tra phát hiện và lập biên bản thu giữ toàn bộ số ma túy cùng vật chứng khác.
. Hành vi của Nguyễn Văn C mua và cất giữ 0,110 gam ma túy loại heroine để sử dụng đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự. Do đó, bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện ĐP truy tố bị cáo theo tội danh và điều luật như nêu trên là có căn cứ, đúng pháp luật.
. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không chỉ xâm phạm chính sách quản lý của Nhà nước đối với các chất ma túy mà còn gây ra sự mất ổn định đối với trật tự trị an trên địa bàn huyện ĐP cũng như tình hình trật tự trị an xã hội nói chung.
. Ma túy là chất gây nghiện có tác hại rất lớn, ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe người sử dụng. Tệ nạn ma túy là vấn đề nhức nhối của xã hội, nhất là trong tình hình hiện nay; ma túy là một trong những nguyên nhân gây ra các tệ nạn xã hội và tội phạm hình sự khác. Bị cáo nhận thức được hành vi của mình bị pháp luật cấm nhưng vẫn cố ý thực hiện. Vì vậy, cần phải xử bị cáo mức hình phạt nghiêm, cách ly ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục bị cáo đồng thời răn đe phòng ngừa tội phạm nói chung.
- 3 -
. Khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử xem xét thấy bị cáo phạm tội không có tình tiết tăng nặng quy định tại Điều 52 BLHS; trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo; bị cáo phạm tội lần đầu, nhân thân bị cáo chưa có tiền án, tiền sự. Đây là tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 của Điều 51 Bộ luật hình sự để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.
. Theo khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự, ngoài hình phạt chính còn quy định hình phạt bổ sung là phạt tiền. Xét thấy, bị cáo không có nghề nghiệp ổn định, không có điều kiện về kinh tế nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
. Đối với người đàn ông khoảng 30 tuổi, bị cáo C khai là người đã bán ma túy cho bị cáo, Cơ quan điều tra đã điều tra nhưng không xác định được nên không có cơ sở để xử lý.
. Về xử lý vật chứng: Số ma túy heroine còn lại sau giám định được niêm phong theo quy định của pháp luật, còn nguyên niêm phong sẽ tịch thu tiêu hủy.
. Chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Wave màu đỏ- đen, biển kiểm soát 29Z6- 7107 đăng ký tên bị cáo là tài sản chung của bị cáo và vợ là chị Nguyễn Thị H. Chị H không biết bị cáo sử dụng xe vào việc phạm tội nên Hội đồng xét xử trả lại cho chị Nguyễn Thị H.
. Án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự.
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn C 14 (mười bốn) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt thi hành án. Bị cáo được trừ thời gian đã bị tạm giữ từ ngày 06/6/2021 đến ngày 15/6/2021.
2. Căn cứ vào Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự để xử lý vật chứng vụ án: Tịch thu tiêu hủy 01 bao gói sau giám định của Phòng kỹ thuật hình sự Công an Thành phố Hà Nội đã niêm phong theo quy định của pháp luật, còn nguyên niêm phong.
Trả lại chị Nguyễn Thị H chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Wave màu đỏ- đen, biển kiểm soát 29Z6- 7107, số máy HC12E-0309267, số khung RLHHC12008Y162155. (Vật chứng hiện lưu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện ĐP, theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 04/10/2021 giữa Công an huyện ĐP với Chi cục Thi hành án dân sự huyện ĐP, Thành phố Hà Nội).
3. Căn cứ vào Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Bị cáo Nguyễn Văn C phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
- 4 -
4. Căn cứ vào Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Chị Nguyễn Thị H có quyền kháng cáo phần bản án, quyết định có liên quan trực tiếp đến quyền lợi và nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - TAND Thành phố Hà Nội; - VKSND huyện ĐP; - CCTHADS huyện ĐP; - CQ THAHS huyện ĐP; - Bị cáo, NLQ....; - Lưu hồ sơ vụ án. - 5 - - 6 - - 7 - | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Thị Hà |