- Tranh chấp gì? án hình sự — "Huỳnh Dương L - phạm tội cướp giật tài sản (điều 171 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Xử phạt bị cáo: Huỳnh Dƣơng L 04 (Bốn) năm tù về tội “Cướp giật tài sản”.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Thông tư số 323/2016/TT-BTC Quy định kiểm tra, giám sát và đ…; Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH CHÁNH THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 85/2021/HS-ST Ngày: 28-4-2021 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH CHÁNH – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Thanh Huyền.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Nguyễn Thị Nguyên.
2. Ông Phạm Văn Tuyền.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kim Ngân – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Trịnh Thị Minh – Kiểm sát viên.
Trong ngày 28 tháng 4 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 77/2021/TLST-HS ngày 18/3/2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 82/2021/QĐXXST-HS ngày 09/4/2021, đối với bị cáo:
Họ và tên: Huỳnh Dƣơng L; sinh năm 1986; giới tính: Nam; nơi sinh: Thành phố Hồ Chí Minh; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: 283/28 Bông S, Phường E, Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh; chỗ ở: Không nơi cư trú nhất định; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; trình độ học vấn: 3/12; nghề nghiệp: Không; họ tên cha: Huỳnh Văn S1; họ tên mẹ: Nguyễn Thị Ch; hoàn cảnh gia đình: Bị cáo chưa có vợ con; tiền sự: Không; tiền án: Có 01 tiền án, ngày 13/3/2019, bị Tòa án nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 01 năm 03 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo Bản án số 41/2019/HSST. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 19/02/2020.
Nhân thân: Ngày 20/9/2011, bị Ủy ban nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh ra Quyết định đưa vào cơ sở chữa bệnh bắt buộc 24 tháng về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy theo Quyết định số 7049/QĐ-UBND. Chấp hành xong ngày 26/9/2013; Ngày 26/5/2016, bị Tòa án nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh ra Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc thời gian 21 tháng theo Quyết định số 323/2016/QĐ-TA. Chấp hành xong ngày 08/12/2017.
Bị cáo bị tạm giam từ ngày 02/11/2020 – Có mặt tại phiên tòa.
Bị hại: Bà Nguyễn Thị Hoàng L1, sinh năm 1983 – Vắng mặt.
Nơi cư trú: D204 chung cư Conic, ấp E, xã Phong Ph, Thành phố Hồ Chí Minh.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 08 giờ ngày 02/11/2020, Huỳnh Dương L điều khiển xe mô tô biển số 51L7-5167 trên Đường số 11 theo hướng từ Bình H về Quận 8. Khi đến trước địa chỉ số 32 Đường số 11, Khu dân cư Bình H, ấp 2, xã Bình H, huyện Bình Chánh thì L phát hiện chị Nguyễn Thị Hoàng L1 đang điều khiển xe mô tô biển số 59C1-412.67 lưu thông phía trước cùng chiều, trong túi áo khoác bên trái của chị L1 có để một chiếc điện thoại di động hiệu Iphone 8 Plus nhô ra nên L nảy sinh ý định cướp giật chiếc điện thoại bán lấy tiền tiêu xài. Lúc này, L điều khiển xe mô tô đi phía sau xe của chị L1, khi đến trước địa chỉ số 72 Đường số 11, Khu dân cư Bình H, ấp 2, xã Bình H thấy chị L1 dừng xe lại nên L điều khiển xe mô tô từ phía sau lên áp sát bên trái xe chị L1, nhanh chóng dùng tay phải giật chiếc điện thoại di động của chị L1 rồi tăng ga bỏ chạy. Chị L1 tri hô “Cướp, cướp!”. Lúc này, anh Trần Văn Th đang đi trên đường nhìn thấy nên điều khiển xe mô tô va chạm vào xe mô tô của L làm cả hai xe ngã xuống đường. Sau đó, L bị người dân và lực lượng Công an xã Bình H tuần tra bắt giữ, lập Biên bản bắt người phạm tội quả tang, sau đó chuyển đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Bình Chánh điều tra, xử lý (BL 15-16).
Kết luận định giá tài sản số 2998/KL-HĐĐGTS ngày 23/11/2020 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Bình Chánh xác định: Một điện thoại di động hiệu Iphone 8 Plus trị giá 4.000.000 đồng (BL 39-46).
Tại bản Cáo trạng số 77/CT-VKS ngày 11 tháng 3 năm 2021, Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Chánh đã truy tố bị cáo Huỳnh Dương L về tội "Cướp giật tài sản” theo điểm d khoản 2 Điều 171 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Tại phiên tòa:
1. Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Chánh giữ quyền công tố tại phiên tòa, sau khi nêu tóm tắt nội dung vụ án, phân tích tính chất của vụ án những tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Chánh đề nghị áp dụng điểm d khoản 2 Điều 171; điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) đề nghị xử phạt bị cáo với mức án từ 04 đến 05 năm tù.
2. Bị cáo Huỳnh Dương L đã thừa nhận hành vi phạm tội của mình giống như lời khai tại Cơ quan điều tra và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Đồng thời thừa nhận hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung bản Cáo trạng Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Chánh đã truy tố bị cáo. Bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Bình Chánh, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Chánh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa hoàn toàn phù hợp với lời khai tại Cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của bị hại; phù hợp với lời khai của những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án, phù hợp với các chứng cứ, tài liệu thu thập có trong hồ sơ vụ án; Vụ án còn được chứng minh qua hoạt động điều tra như biên bản lấy lời khai, thu giữ vật chứng, kết quả định giá tài sản… cùng các chứng cứ tài liệu thu thập có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Bị cáo Huỳnh Dương L đã có hành vi sử dụng xe mô tô áp sát từ phía sau bên trái chị Nguyễn Thị Hoàng L1 rồi nhanh chóng dùng tay phải giật chiếc điện thoại di động Iphone 8 Plus trị giá 4.000.000 đồng của chị L1 vào ngày 02/11/2020 tại trước địa chỉ số 72 Đường số 11, Khu dân cư Bình H, ấp 2, xã Bình H, huyện Bình Chánh. Như vậy, bị cáo Huỳnh Dương L đã phạm vào tội “Cướp giật tài sản”, tội phạm được quy định tại Điều 171 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); Vì vậy, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Chánh đã truy tố bị cáo với tội danh nêu trên là đúng người, đúng tội.
Hành vi của bị cáo đã xâm phạm tài sản hợp pháp của công dân được pháp luật bảo vệ; bị cáo thực hiện hành vi phạm tội một cách táo bạo, ngang nhiên nơi đường phố đông người qua lại; gây mất trật tự trị an xã hội tại địa phương; làm ảnh hưởng đến sinh hoạt bình thường của người dân, bị cáo phạm tội với lỗi cố ý, mục đích phạm tội là muốn có tiền tiêu xài cho bản thân. Việc bị cáo sử dụng xe mô tô làm phương tiện phạm tội là dùng thủ đoạn nguy hiểm được quy định tại điểm d khoản 2 Điều 171 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo có 01 tiền án, ngày 13/3/2019, bị Tòa án nhân dân Quận 8 xử phạt 01 năm 03 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo Bản án số 41/2019/HSST. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 19/2/2020, vẫn chưa xóa án tích, nhưng bị cáo không biết ăn năn hối cải, làm ăn lương thiện lại tiếp tục lao vào con đường phạm tội, chứng tỏ bị cáo rất xem thường pháp luật, lần phạm tội này thuộc tình tiết tặng nặng là tái phạm theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Ngoài ra, bị cáo còn có nhân thân xấu: Ngày 20/9/2011, bị Ủy ban nhân dân Quận 8 ra Quyết định đưa vào cơ sở chữa bệnh bắt buộc 24 tháng về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy theo Quyết định số 7049/QĐ-UBND. Chấp hành xong ngày 26/9/2013. Ngày 26/5/2016, bị Tòa án nhân dân Quận 8 ra Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc thời gian 21 tháng theo Quyết định số 323/2016/QĐ-TA. Chấp hành xong ngày 08/12/2017. Do đó, cần có mức án nghiêm nhằm giáo dục bị cáo và răn đe phòng ngừa chung cho toàn xã hội.
Tuy nhiên, khi lượng hình cũng cần cân nhắc đến các tình tiết bị cáo thành khẩn khai báo và đã tỏ ra ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình để giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) mà lẽ ra bị cáo phải chịu.
Vật chứng của vụ án:
01 Điện thoại di động hiệu Iphone 8 Plus của bị hại là bà Nguyễn Thị Hoàng L1; 01 xe mô tô Honda Wave biển số 51L7-5167 mà L khai là do L tự ý lấy xe của cha ruột là ông Huỳnh Văn S1. Qua xác minh, xe này do chị Huỳnh Thị Ngọc D đứng tên chủ sở hữu. Chị D cho biết chiếc xe này đã cho cha chồng là ông S1 vào năm 2019. Ông S1 khai không biết việc L tự ý lấy xe mô tô đi cướp giật tài sản của người khác. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Bình Chánh đã tiến hành trả chiếc Điện thoại di động hiệu Iphone 8 Plus cho chị Nguyễn Thị Hoàng L1, trả xe mô tô biển số 51L7-5167 cho chị D và ông S1. Hội đồng xét xử không xét.
Về dân sự, bà Nguyễn Thị Hoàng L1 đã nhận lại tài sản và không yêu cầu bồi thường nên Hội đồng xét xử ghi nhận.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm d khoản 2 Điều 171; điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017);
Căn cứ vào Điều 331, Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự;
Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
1. Xử phạt bị cáo: Huỳnh Dƣơng L 04 (Bốn) năm tù về tội “Cướp giật tài sản”.
Thời hạn tù tính từ ngày 02/11/2020.
2. Về án phí hình sự sơ thẩm: Buộc bị cáo chịu 200.000 đồng (Hai trăm ngàn đồng) án phí Hình sự sơ thẩm.
3. Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, tính kể từ ngày tuyên án. Các đương sự vắng mặt tại Tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 (mười lăm) ngày, tính từ ngày nhận bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.
| Nơi nhận: - Tòa án nhân dân TP.HCM (1); - Viện kiểm sát nhân dân TP.HCM (1); - Viện kiểm sát nhân dân H. Bình Chánh (1); - Chi cục Thi hành án dân sự H. Bình Chánh (1); - PV06-Công an TP.HCM (1); - Sở Tư pháp TP.HCM (1); - Bị cáo (2); - Bị hại (2); - Lưu VP, hồ sơ (5). | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Thị Thanh Huyền |