vanban.org

Bản án 85/2021/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Về việc anh A xin ly hôn với chị C"
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ V
TỈNH VĨNH LONG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 85/2021/HNGĐ-ST.
Ngày: 19 - 11 - 2021.
V/v ly hôn giữa chị A và anh C.

NHÂN DANH

N ỚC CỘNG H A XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

T A ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ V, TỈNH VĨNH LONG

- Thành h n i đ ng t

ơ th m g m :

-

: Ông Hồ Thanh Hồng.

Bà Đặng Ngọc Thu.

Bà Võ Thị Mỹ Ngọc.

- Th

hiên t a: Ông Ngô Minh Bảo - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố V, tỉnh Vĩnh Long.

Ngày 19 tháng 11 năm 2021 tại phòng xử án, Tòa án nhân dân thành phố V tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 164/2021/TLST-HNGĐ, ngày 26 tháng 5 năm 2021 về tranh chấp ly hôn, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 83/2021/QĐXXST-HNGĐ ngày 06 tháng 10 năm 2021 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 130/2021/QĐST-HNGĐ ngày 29/10/2021, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Lê Hoàng A, sinh năm 1985; nơi cư trú: Số nhà 22, Khóm M, Phường B, thành phố V, tỉnh Vĩnh Long, có đơn xin vắng mặt.

- Bị đơn: Anh Đặng Nhựt C, sinh năm 1985; nơi cư trú: Số nhà 20, Khóm M, Phường B, thành phố V, tỉnh Vĩnh Long, vắng mặt.

NỘI DUNG V ÁN:

Tại đơn khởi kiện xin ly hôn ngày 23 tháng 3 năm 2021 nguyên đơn chị Lê Hoàng A trình bày: Chị và anh Đặng Nhựt C sau thời gian tìm hiểu đi đến hôn nhân, có đăng ký kết hôn ngày 04 tháng 3 năm 2007, Chị cùng anh C chung sống được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn do bất đồng quan điểm, đời sống hôn nhân không hạnh phúc và đã sống ly thân trên 10 năm. Nay chị A yêu cầu giải quyết được ly hôn với anh C.

Chị A và anh C chung sống với nhau có 01 người con chung tên Đặng Nhựt K, sinh ngày 22 tháng 10 năm 2008. Khi ly hôn chị A yêu cầu được nuôi con, không yêu cầu anh C cấp dưỡng.

Tài sản chung; nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Anh Đặng Nhựt C đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt.

NH N Đ NH CỦA T A ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng: Chị A và anh C kết hôn năm 2007, có đăng ký kết hôn đúng trình tự quy định của pháp luật. Sống chung với nhau một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn, cuộc sống vợ chồng không hạnh phúc, từ đó đã sống ly thân, nên chị A có đơn yêu cầu xin được ly hôn với anh C, anh C có đăng ký hộ khẩu thường trú tại thành phố V.

Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố V, Tòa án nhân dân thành phố V thụ lý giải quyết theo thủ tục sơ thẩm là đúng quy định của pháp luật. Đồng thời, anh C đã được triệu tập hợp lệ nhiều lần vắng mặt không có lý do, chị A có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, nên áp dụng điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1 Điều 228 và Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn là đúng quy định.

[2] Về nội dung: Theo chứng cứ do chị A cung cấp có trong hồ sơ vụ án, thể hiện chị A và anh C có đăng ký kết hôn vào ngày 04 tháng 3 năm 2007. Thời gian chung sống thì phát sinh mâu thuẫn và không tự giải quyết được, cuộc sống không hạnh phúc dẫn đến việc chị A và anh C sống ly thân, anh C được triệu tập nhiều lần không đến tham gia giải quyết, từ đó cho thấy A không có thiện chí muốn hàn gắn tình cảm vợ chồng, mâu thuẫn đã thật sự trầm trọng, nên xét thấy việc chị A yêu cầu được ly hôn với anh C là có cơ sở chấp nhận, đúng với quy định tại Điều 51 và khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình.

[3] Về con chung: Chị A và anh C chung sống với nhau có 01 người con chung tên Đặng Nhựt K, sinh ngày 22 tháng 10 năm 2008, khi ly hôn chị A yêu cầu được nuôi con, không yêu cầu anh C cấp dưỡng.

Xét thấy, từ khi ly thân đến nay cháu K là do chị A nuôi dưỡng. Đồng thời, tại biên bản ghi lời khai ngày 22/6/2021, khi được hỏi ý kiến, cháu K có nguyện vọng sống với chị A và chị A cũng có nguyện vọng tiếp tục nuôi dưỡng cháu K, nên giao cháu K cho chị A nuôi dưỡng là hợp lý, đúng với quy định tại các Điều 81, 82 và 83 của Luật Hôn nhân và gia đình.

[4] Về cấp dưỡng; về tài sản chung và nợ chung: Do đương sự không có yêu cầu nên không xem xét giải quyết.

[5] Theo quy định tại khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, nguyên đơn trong vụ án hôn nhân và gia đình phải chịu tiền án phí, do đó chị A phải nộp án phí số tiền 300.000 đồng.

Vì các l trên,

QU T Đ NH:

p dụng khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1 Điều 228 và Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

p dụng khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 56; Điều 81, 82 và 83 của Luật Hôn nhân và gia đình.

p dụng điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Tuyên xử:

1. Về hôn nhân: Cho chị Lê Hoàng A ly hôn anh Đặng Nhựt C.

2. Về nuôi con chung:

Giao cháu Đặng Nhựt K, sinh ngày 22 tháng 10 năm 2008 cho chị Lê Hoàng A nuôi dưỡng.

Không ai được quyền ngăn cản việc thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung đối với anh C, nhưng nếu anh C lạm dụng việc thăm nom để gây cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì chị A có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con đối với anh C.

3. Về án phí:

Buộc chị Lê Hoàng A nộp 300.000 đồng (B

tiền án phí sơ thẩm, trừ vào số tiền tạm ứng án phí chị A đã nộp 300.000 đồng (B

) tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố V, theo biên lai thu tiền số 0000246 ngày 14/5/2021, chị A đã nộp đủ tiền án phí sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ