vanban.org

Bản án 85/2020/HSST — Hình sự

TAND TP. Huế, TP. Huế Tuyên án 27/05/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Mai Đình S phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt bị cáo Mai Đình S 07 (Bảy) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bắt tạm giam là ngày 23/01/2020. Về trách nhiệm dân sự: Bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không có yêu cầu gì. Hội đồng xét xử không xem xét.

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Mai Đình Sơn - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Mai Đình S phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

N N N N

N

N

N M

N

c l - do- nh h c

N

N Bản án số: 85/2020/HS-ST Ngày: 27-5-2020

NHÂN DANH

N

N

N

N M

N N N N

N

, N

N

h nh h n i n

ơ h

:

Th ph n - Ch a phi n a: Bà Lê Thị Qúy Vân

C c H i h nh n d n:

1. Bà Tôn Nữ Quỳnh Tương.

2. Bà Nguyễn Thị Thanh.

h

hi n a: Ông Phạm Thái Vũ - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố

Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế.

i di n i n i

nh n d n h nh h

ha ia hi n a: Ông Dương Phước An - Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 5 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 68/2020/HSST ngày 10 tháng 4 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 67/2020/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 5 năm 2020, đối với bị cáo:

Họ và tên: Mai Đình S; sinh ngày 11 tháng 5 năm 1987 tại tỉnh Thừa Thiên Huế; giới tính: Nam; nơi cư trú: Số 21/05/40 Lịch Đ, phường Phường Đúc, thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Mai Đình Hoa và bà Nguyễn Thị Phú (chết); vợ: Luyện Thị Thùy Anh, con: Luyện Sơn Lâm, sinh năm: 2016; tiền sự: Không; tiền án: 02 tiền án: Bản án số 111/2017/HSPT, ngày 06/9/2017 của Tòa án nhân dân tỉnh Thừa Thiên Huế, xử phạt 01 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”; bản án số 247/2017/HSST, ngày 04/10/2018 của Tòa án nhân dân thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế, xử phạt 10 tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, tổng hợp hình phạt chung 01 năm 10 tháng tù; nhân thân: Ngày 04/5/2009, bị Công an thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế xử phạt hành chính 200.000 đồng về hành vi “Trộm cắp tài sản”; ngày 20/8/2013, bị Phòng PC02 Công an tỉnh Thừa Thiên Huế xử phạt hành chính 1.500.000 đồng về hành vi “Trộm cắp tài sản”; bị bắt, tạm giam ngày 23/01/2020. Bị cáo có mặt.

- Bị hại: Anh Huỳnh Quốc T, sinh năm: 1981; địa chỉ: Số 68/9 Nguyễn Phúc Nguyên, Phường Hương Long, thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế. Vắng mặt;

- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

+ Công ty Tài chính TNHH MB Shinsei; địa chỉ: Tầng 12, Tòa nhà TNR, 54A Nguyễn Chí Thanh, quận Đống Đa, thành phố Hà Nội. Người đại diện theo theo ủy quyền: Anh Lê Tiến Yên, sinh ngày 20/10/1993, chức vụ: Nhân viên thu hồi nợ Pháp lý – Công ty Tài chính TNHH MB Shinsei, địa chỉ: 363 Nguyễn Hữu Thọ, phường Khuê Trung, quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng. Vắng mặt;

Anh Nguyễn Vĩnh Tuấn, sinh ngày 13/3/1986, chức vụ: Giám sát phát triển kinh doanh Huế - Quảng Trị - Quảng Bình, địa chỉ: 12 Lê Đình Dương, phường Tứ Hạ, thị xã Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên Huế. Có mặt.

+ Chị Luyện Thị Thùy Anh, sinh năm: 1985; địa chỉ: Số 21/5/40 Lịch Đ, phường Phường Đúc, thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế. Có mặt.

N I DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Bản cáo trạng số: 82/CT-VKS-HS, ngày 07 tháng 4 năm 2020 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế đã truy tố bị cáo Mai Đình S về hành vi phạm tội: Khoảng 10 giờ 00 ngày 12/12/2019, Mai Đình S điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius, biển số 75B1-412.17 chạy trên tuyến đường Nguyễn Phúc Nguyên, phường Hương Long, thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế tìm chó để bắt trộm. Khi đi đến số nhà 68/9 Nguyễn Phúc Nguyên, Sơn phát hiện 01 con chó Becgie màu đen của anh Huỳnh Quốc T đang nằm ở sân nhà, Sơn liền ném thuốc bã chó đã chuẩn bị trước đó đến vị trí con chó rồi bỏ đi. Con chó sau khi ăn bã độc được 05 phút thì bất tỉnh. Sơn quay lại bỏ chó vào bao tải, rồi đưa lên xe chở lên hướng phường Hương Hồ, thị xã Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên Huế bán cho 01 người mua chó không quen biết gặp giữa đường với giá 400.000 đồng.

Anh Huỳnh Quốc T sau khi phát hiện mất tài sản đã đến trình báo Công an phường Hương Long. Qua truy xét Công an phường đã mời Sơn lên làm việc, tại cơ quan Công an, Sơn đã khai nhận hành vi của mình.

- Vật chứng thu giữ:

+ 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius màu đỏ đen, biển số 75B1-412.17; số khung 3740KY001194, số máy E32VE002243. Vật chứng này, hiện đang được giữ tại kho Vật chứng của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Huế.

+ 01 bản sao giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy mang tên Mai Đình S; 01 Hợp đồng cho vay mua hàng trả góp xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius số 1000319100049134 giữa Mai Đình S với Công ty tài chính TNHH Shinsei; 01 video clip có độ dài 4 phút 45 giây và 10 tấm ảnh được trích xuất từ Camera ghi lại hình ảnh Sơn thực hiện hành vi trộm chó. Những vật chứng này lưu giữ hồ sơ vụ án.

+ 400.000 đồng (Bốn trăm nghìn đồng), gồm 04 tờ tiền Ngân hàng Nhà nước Việt Nam có mệnh giá 100.000 đồng. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Huế đã trả lại cho anh Huỳnh Quốc T 400.000 đồng.

Tại bản định giá tài sản số 01/KL-HĐĐG, ngày 06/01/2020 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố Huế kết luận như sau: 01 con chó Becgie màu đen, nặng 20 kg, đơn giá 60.000 đồng/kg thịt hơi, có giá trị 1.200.000 đồng.

- Về trách nhiệm dân sự:

+ Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Huế đã trả lại cho anh Huỳnh Quốc T 400.000 đồng, anh Tuấn không yêu cầu bồi thường gì thêm.

Tại phiên tòa Đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên bản cáo trạng, đồng thời Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017; đề nghị Hội đồng xét xử, xử phạt bị cáo Mai Đình S từ 09 (Chín) tháng đến 01 (Một) năm tù; Xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius màu đỏ đen, biển số 75B1-412.17; số khung 3740KY001194, số máy E32VE002243 tịch thu đấu giá để trả lại số tiền cho Công ty Tài chính TNHH MB Shinsei mà bị cáo đã vay, còn lại bao nhiêu sung quỹ Nhà nước.

Ý kiến bị hại anh Huỳnh Quốc T: không yêu cầu bồi thường gì thêm về dân sự.

Ý kiến của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Người đại diện theo ủy quyền của Công ty Tài chính TNHH MB Shinsei: Yêu cầu Hội đồng xét xử xem xét giao xe mô tô trên cho Công ty để xử lý theo quy định pháp luật thu hồi khoản vay theo hợp đồng cho vay mua hàng trả góp, giữa Công ty Tài chính TNHH MB Shinsei và Mai Đình S.

Chị Luyện Thị Thùy Anh: Không có ý kiến, yêu cầu gì.

Ý kiến và lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo thừa nhận hành vi của mình đúng như nội dung bản Cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố. Bị cáo nhận thức được hành vi của mình là sai, vi phạm pháp luật, mong Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Căn cứ vào các chứng cứ tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa; Căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa; Trên cơ sở xem xét đầy đủ toàn diện tài liệu chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo và những người tham gia tố tụng.

NHẬN ỊNH C A TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Qúa trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo thì có đủ cơ sở để kết luận: Do cần tiền tiêu xài nên bị cáo có ý định chiếm đoạt tài sản của người khác. Khoảng 10 giờ 00 phút ngày 12/12/2019, tại nhà anh Huỳnh Quốc T bị cáo phát hiện con chó Becgie đang nằm ở sân nhà, bị cáo đã ném bã chó, con chó ăn bất tỉnh, sau đó bị cáo đã chiếm đoạt con chó, bán cho người khác. Hành vi của bị cáo lén lút chiếm đoạt tài sản của người khác, có trị giá 1.200.000 đồng. Mặc dù tài sản bị cáo chiếm đoạt có giá trị thấp hơn Điều luật quy định nhưng do bị cáo đã bị kết án về tội “Trộm cắp tài sản” và “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, chưa được xóa án tích, lại tiếp tục vi phạm, nên phạm vào tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Viện kiểm sát nhân dân thành phố Huế truy tố bị cáo theo tội danh và điều luật đã viện dẫn trên là chính xác, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[3] Xét về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo, Hội đồng xét xử thấy rằng: Hành vi bị cáo gây ra phạm vào khung hình phạt ít nghiêm trọng, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được Nhà nước bảo vệ, làm ảnh hưởng đến trật tự an ninh trong xã hội. Bị cáo Mai Đình S là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi phạm tội của mình. Nhiều lần bị pháp luật xử lý, nhưng bị cáo không tu dưỡng, rèn luyện trở thành người tốt, mà vẫn tiếp tục phạm tội. Do đó, cần xử phạt bị cáo mức án nghiêm, để giáo dục, đồng thời răn đe phòng ngừa chung và bảo vệ trật tự an toàn xã hội. Tuy nhiên, khi quyết định hình phạt, xét cho bị cáo quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay thành khẩn khai báo; phạm tội nhưng gây thiệt hại không lớn; nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s, h khoản 1 Điều 51 bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Bị cáo không phạm vào tình tiết tặng nặng nào.

[4] Về trách nhiệm dân sự: Anh Huỳnh Quốc T đã nhận 400.000 đồng, số tiền mà bị cáo bán con chó đã giao nộp cho Cơ quan điều tra, anh Tuấn không yêu cầu gì thêm, Hội đồng xét xử khồng xem xét. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không có yêu cầu gì. Hội đồng xét xử không xem xét.

[5] Về xử lý vật chứng:

Đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius, màu đỏ đen, biển số 75B1-412.17; số khung 3740KY001194, số máy E32VE002243. Quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay xác định: Ngày 09/10/2019 Công ty Tài chính TNHH MB Shinsei cho Mai Đình S vay số tiền 23.527.000 đồng, để mua chiếc xe trên trả góp, theo hợp đồng cho vay mua hàng trả góp, số: 1000319100049134, ngày 09/10/2019 giữa Công ty Tài chính TNHH MB Shinsei và Mai Đình S. Tại phiên tòa, người đại diện theo ủy quyền của Công ty Tài chính TNHH MB Shinsei yêu cầu được nhận lại xe mô tô trên, để xử lý theo quy định pháp luật thu hồi khoản vay theo hợp đồng cho vay, tạm tính đến ngày 23/3/2020 là 23.883.176 đồng, cụ thể: Nợ gốc là 21.678.180 đồng , nợ lãi là 2.204.996 đồng, bị cáo Mai Đình S cũng thừa nhận khoản vay tiền trên của Công ty Tài chính TNHH MB Shinsei để mua xe trả góp; Hội đồng xét xử thấy rằng: Bị cáo dùng chiếc xe trên làm phương tiện phạm tội, theo nguyên tắc cần tịch thu sung quỹ Nhà nước. Tuy nhiên, xét chiếc xe này trước đó bị cáo vay tiền của Công ty Tài chính TNHH MB Shinsei trả góp, việc bị cáo dùng chiếc xe này để phạm tội thì Công ty Tài chính TNHH MB Shinsei không biết. Do đó, để đảm bảo quyền lợi chính đáng cho Công ty, nên giao xe cho Chi cục thi hành án dân sự thành phố Huế phối hợp với Công ty Tài chính TNHH MB Shinsei xử lý bán đấu giá tài sản để Công ty Tài chính TNHH MB Shinsei thu hồi số tiền vay, tính đến ngày 23/3/2020 là 23.883.176 đồng, cụ thể: Nợ gốc là 21.678.180 đồng, nợ lãi là 2.204.996 đồng, theo hợp đồng cho vay mua hàng trả góp, số:1000319100049134, ngày 09/10/2019 giữa Công ty Tài chính TNHH MB Shinsei và Mai Đình S. Phần giá trị còn lại (nếu có) tịch thu sung quỹ Nhà nước.

Đối với 01 bản sao giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy mang tên Mai Đình S; 01 Hợp đồng cho vay mua hàng trả góp xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius số 1000319100049134 giữa Mai Đình S với Công ty tài chính TNHH Shinsei; 01 video clip có độ dài 4 phút 45 giây và 10 tấm ảnh được trích xuất từ Camera ghi lại hình ảnh Sơn thực hiện hành vi trộm chó. Tiếp tục lưu hồ sơ vụ án.

[6] Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUY

ỊNH:

1. Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 173; điểm h, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017;

Tuyên bố bị cáo Mai Đình S phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt bị cáo Mai Đình S 07 (Bảy) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bắt tạm giam là ngày 23/01/2020.

2. Về trách nhiệm dân sự: Bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không có yêu cầu gì. Hội đồng xét xử không xem xét.

3. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017; tuyên xử:

Giao chiếc xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius, màu đỏ đen, biển số 75B1-412.17; số khung 3740KY001194, số máy E32VE002243 cho Chi cục thi hành án dân sự thành phố Huế phối hợp với Công ty Tài chính TNHH MB Shinsei xử lý bán đấu giá tài sản để Công ty Tài chính TNHH MB Shinsei thu hồi nợ vay, tính đến ngày 23/3/2020 là 23.883.176 đồng (Hai mươi ba triệu tám trăm tám mươi ba nghìn một trăm bảy mươi sáu đồng), cụ thể: Nợ gốc là 21.678.180 đồng , nợ lãi là 2.204.996 đồng, theo hợp đồng cho vay mua hàng trả góp, số: 1000319100049134, ngày 09/10/2019 giữa Công ty Tài chính TNHH MB Shinsei và Mai Đình S. Phần giá trị còn lại (nếu có) tịch thu sung quỹ Nhà nước. Hiện vật chứng trên đang được tạm giữ tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Huế, theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 10/04/2020 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Huế và Chi cục thi hành án dân sự thành phố Huế.

4. Về án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án, buộc bị cáo Mai Đình S phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phi hình sự sơ thẩm.

Trường hợp bản án được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, được bổ sung theo Luật sửa đổi, bổ sung Luật Thi hành án dân sự năm 2014, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự và Điều 7a, 7b Luật sửa đổi bổ sung một số Điều của Luật Thi hành án dân sự năm 2014; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Án xét xử sơ thẩm công khai báo cho bị cáo biết có quyền kháng cáo bản án, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng bản án phần liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết.

Cỡ chữ