- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn Tuấn Trộm cắp tài sản - phạm tội cướp giật tài sản (điều 171 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐB TỈNH Đ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 85/2020/HSST Ngày: 26/02/2020 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ B-TỈNH Đ
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Bùi Lan Hƣơng
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Thiều Thị Phi Loan
Bà Trƣơng Thị Thìn
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Trần Nhàn – Thư ký Tòa án nhân dân TP.B, tỉnh Đ
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố B tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Bằng – Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 02 năm 2020 tại trụ sở, Tòa án nhân dân thành phố B xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 38/2020/HSST ngày 20/01/2010 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 76/2020/HSST ngày 12/02/2020 đối với bị cáo:
Nguyễn Văn T; Giới tính: Nam
Tên gọi khác: Không.
Sinh năm 1992 tại Đ.
Nơi cư trú: Ấp Đ, xã X, huyện C, tỉnh Đ.
Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Phật
Trình độ học vấn: 1/12; Nghề nghiệp: Không; Chức vụ: Không.
Con ông: Nguyễn Văn Th (đã chết); Con bà: Đỗ Ánh H, sinh năm 1966.
Gia đình có 04 anh em; Bị cáo là cáo thứ hai.
Vợ con: Chưa có.
Tiền sự: Không.
Tiền án: Tại Bản án số 13/2019/HSST ngày 09/01/2019, Tòa án nhân dân thành phố B, tỉnh Đ xử phạt bị cáo 08 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản”.
Bị bắt ngày 03/12/2019 – Có mặt.
Bị hại: Anh Nguyễn Minh H, sinh năm 1985 – Vắng mặt.
Địa chỉ: 33C/D3, tổ 12, KP. B, phường, TP. B, tỉnh Đ.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Nguyễn Văn T là đối tượng sống lang thang, không có nghề nghiệp và đã có tiền án về tội Trộm cắp tài sản chưa được xóa án tích. Khoảng 07 giờ ngày 03/12/2019, T rủ Nguyễn Văn S, sinh năm 1999, ngụ tại ấp 1, xã M, huyện V, tỉnh Đ đi trộm cắp tài sản thì S đồng ý. Khi cả hai đi đến nhà số 33C/D3 tổ 12, khu phố Bg, phường L, thành phố B do anh Nguyễn Minh H làm chủ, phát hiện nhà không khóa cửa, không có ai bên trong nên S và T đột nhập vào bên trong trộm cắp 02 cây sắt tròn dài 01m, 01 thau nhôm, 02 ruột nồi cơm điện bỏ vào trong bao chuẩn bị mang ra ngoài thì bị anh H đi về phát hiện nên đã tri hô cùng người dân bắt giữ T giao cho Công an phường Long Bình Tân, thành phố B lập hồ sơ chuyển đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phốB điều tra xử lý.
Vật chứng gồm:
- 02 cây sắt tròn dài 01m, 01 thau nhôm, 02 ruột nồi cơm điện đã được Cơ quan điều tra giao trả cho người bị hại là anh Nguyễn Minh H.
Tại kết luận định giá tài sản số 610/TCKH-HĐĐG ngày 09/12/2019 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng thành phốB kết luận: 02 cây sắt tròn dài 01m, 01 thau nhôm, 02 ruột nồi cơm điện có tổng trị giá là 26.600 đồng (Hai mươi sáu nghìn sáu trăm đồng).
Về dân sự: Anh Nguyễn Minh H đã nhận lại tài sản và không yêu cầu bồi thường.
Tại bản cáo trạng số 66/CT-VKSBH ngày 17/01/2020, Viện kiểm sát nhân dân TP. B đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn T về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T mức án: từ 12 tháng đến 14 tháng tù.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng trong hồ sơ vụ án: Cơ quan điều tra Công an TP.B, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân TP.B, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại đối với hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận do muốn có tiền tiêu xài nên vào khoảng 07 giờ ngày 03/12/2019, bị cáo cùng với Nguyễn Văn S đã có hành vi đột nhập vào nhà số 33C/D3, tổ 12, khu phố B, phường L, thành phố B, tỉnh Đ lấy trộm 02 cây sắt tròn dài 01m, 01 thau nhôm, 02 ruột nồi cơm điện có tổng trị giá là 26.600 đồng (Hai mươi sáu nghìn sáu trăm đồng) của anh Nguyễn Minh H thì bị bắt giữ điều tra xử lý.
Lời khai nhận của bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại, người làm chứng và phù hợp với các chứng cứ, tài liệu khác có tại hồ sơ.
Do bị cáo có tiền án về về tội “Trộm cắp tài sản” chưa được xóa án tích nên tuy tổng trị giá tài sản bị cáo chiếm đoạt là 26.600 đồng nhưng hành vi của bị cáo Nguyễn Văn T đã phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân TP. B đã truy tố là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những đã xâm phạm đến quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của người khác mà còn gây mất trật tự trị an xã hội tại địa phương, gây bất bình trong dư luận quần chúng nhân dân. Cũng với hành vi tương tự, ban thân bị cáo đã bị kết án nhưng không chịu lấy đó làm bài học để sửa chữa, rèn luyện bản thân lại tiếp tục phạm tội. Vì vậy cần xử phạt bị cáo mức án nghiêm để cải tạo, giáo dục bị cáo và có tác dụng răn đe, phòng ngừa chung.
Tuy nhiên, khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử xét bị cáo không có tình tiết tăng nặng, có các tình tiết giảm nhẹ như: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đều thành khẩn khai báo, tỏ thái độ ăn năn hối cải; tài sản chiếm đoạt có giá trị không lớn. Trên cơ sở đó, Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.
Về phần dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu gì khác nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về án phí: Bị cáo phải nộp 200.000đ án phí HSST theo quy định.
Về vấn đề khác:
Đối với Nguyễn Văn S có hành vi trộm cắp tài sản nhưng chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự, bản thân S chưa có tiền án, tiền sự nên Công an thành phố B xử phạt hành chính là phù hợp.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
1. Căn cứ khoản 1 Điều 173; các điểm h, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự:
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T 10 (mười) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 03/12/2019.
2. Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án:
Bị cáo phải nộp 200.000đ (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
3. Căn cứ Điều 331; Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự:
Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Riêng bị hại vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ bản án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Đ; - VKSND tỉnh Đ; - VKSND thành phốB; - Công an thành phốB; - Chi cục THADS thành phốB; - Cơ quan Thi hành án hình sự CATPBH; - Sở tư pháp tỉnh Đ; - Bị cáo – Bị hại; - Lưu. | Bùi Lan Hƣơng |