vanban.org

Bản án 85/2020/HSPT — Hình sự

TAND tỉnh Phú Thọ Tuyên án 01/09/2020 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 01/09/2020 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

[1] Căn cứ Điểm b Khoản 1 Điều 355, Điểm b Khoản 2 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015.

[2] Căn cứ điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1, khoản 2, khoản 5 Điều 65 của Bộ luật Hình sự. Tuyên bố bị cáo Hà Văn D phạm tội "Cố ý gây thương tích". Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Hà Văn D phạm phạm tội Cố ý gây thương tích - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa…"
  • Tòa quyết gì? [1] Căn cứ Điểm b Khoản 1 Điều 355, Điểm b Khoản 2 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 65 Bộ luật Hình sự; Điều 134 Bộ luật Hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
TỈNH PHÚ THỌ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 85/2020/HSPT
Ngày 01 tháng 9 năm 2020

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ

-Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hồ Văn Việt

Các Thẩm phán : Ông Nguyễn Việt Tiến

Ông Phạm Văn Toàn

-Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Thành Long - Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Phú Thọ.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ tham gia phiên toà: Ông Hoàng Thanh Phương - Kiểm sát viên.

Trong các ngày 28/8/2020 và 01/9/2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ đưa ra xét xử theo trình tự phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 40/2020/HSPT-HS ngày 24 tháng 4 năm 2020, do có kháng cáo của anh Trần Văn Phi L là bị hại đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 09/2020/HSST ngày 09/3/2020 của Tòa án nhân dân huyện T, tỉnh Phú Thọ.

- Bị cáo bị kháng cáo: HÀ VĂN D - sinh năm: 1999 tại huyện T, tỉnh Phú Thọ; nơi cư trú: Xóm M 1, xã V, huyện T, tỉnh Phú Thọ; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 11/12; dân tộc: Mường; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hà Minh Đ - sinh năm: 1970 và bà Nguyễn Thị B - sinh năm: 1966; vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không; tạm giữ: Không

Tạm giam: Bị cáo bị tạm giam từ ngày 26/11/2019 đến 20/01/2020 thì thay thế biện pháp ngăn chặn bằng biện pháp “Bảo lĩnh”. Hiện bị cáo tại ngoại tại nơi cư trú.

(Có mặt)

- Người bào chữa cho bị cáo D:

Bà Đinh Thị Hạnh - Là trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Phú Thọ. (Có đơn xin xét xử vắng mặt)

- Bị hại kháng cáo: Anh Trần Văn Phi L - sinh năm: 1994

Địa chỉ: Xóm B, xã C, huyện T, tỉnh Phú Thọ. (Có mặt ngày 28/8/2020, vắng mặt ngày 01/9/2020)

- Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho anh L:

Ông Lê Hữu Lệ - Luật sư Công ty Luật hợp danh Hùng Vương Phú Thọ thuộc Đoàn luật sư tỉnh Phú Thọ. (Có mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Chiều ngày 16/10/2019, tại đám cưới của anh Hà Văn T ở xóm M 1, xã V, huyện T, tỉnh Phú Thọ, anh Hà Mạnh D - sinh năm: 1994, thường trú tại xóm M 1, xã V, huyện T, tỉnh Phú Thọ nhìn thấy anh Tống Mạnh K - sinh năm: 1991, thường trú tại xóm Hà Biên, xã V, huyện T cũng D đám cưới ở đó. Anh Hà Mạnh D cho rằng anh Tống Mạnh K có TH độ nghênh ngang, anh D nhìn ngứa mắt nên anh D bảo anh Nguyễn Mạnh C - sinh năm: 1998, thường trú tại xóm M 1, xã V, huyện T (anh C là em họ của anh D) lát nữa ra đánh anh K cho anh D. Đến khoảng 19 giờ 30 phút cùng ngày, khi anh Tống Mạnh K đứng ở cổng đám cưới chờ anh Trần Văn Phi L - sinh năm: 1994, thường trú tại xóm B, xã C, huyện T và anh Đỗ Văn TH - sinh năm: 1994, thường trú tại xóm B, xã T, huyện T lấy xe để đi chơi thì anh Nguyễn Mạnh C đi đến đấm nhiều cái vào đầu và mặt của anh K rồi bỏ chạy. Một lúc sau chị Nguyễn Thị Mai Q - sinh năm: 1994 ở cùng xóm với anh Nguyễn Mạnh C (Q là chị con nhà bác ruột của C) đưa anh C đến cổng đám cưới gặp anh K để nói chuyện và xin lỗi anh K. Do tức giận việc anh C lúc trước đánh mình nên anh K dùng tay đấm một cái vào mặt anh C. Lúc này anh Hà Mạnh D và em trai là Hà Văn D - sinh năm: 1999 cùng anh Hà Quang A - sinh năm: 1994 cùng thường trú tại xóm M 1, xã V, huyện T, tỉnh Phú Thọ đang đứng gần đó thấy anh C bị đánh thì lao vào để đánh anh K nhưng chưa đánh được vì anh K bỏ chạy theo hướng xã V đi xã V huyện T. Hà Văn D lấy chiếc gậy ven đường loại gậy cọc rào bằng tre màu vàng dài 112cm, một đầu vát, một đầu tròn đường kính 03 cm đuổi theo để đánh anh K. Lúc này, anh Trần Văn Phi L chạy theo và hô “Thằng nào đánh anh tao” (anh L và anh K có mối quan hệ anh em con bác con cậu). D đuổi đánh anh K không được thì quay lại, thấy anh L đang chạy về phía mình nên D dùng gậy tre vụt một phát vào vùng mặt anh L khiến anh L đổ khụy xuống đường (Lúc này khoảng hơn 20 giờ ngày 16/10/2019).

Hậu quả, anh Trần Văn Phi L bị thương tích rách ra ở cung lông mày trái, gẫy xương chính mũi, vỡ thành trước xoang hàm trái, vỡ thành ngoài xoang sàng trái được người nhà đưa đi điều trị tại Bệnh viện Quân y 105 và Bệnh viện tai mũi họng Trung ương.

Tại bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 271/TgT/2019 ngày 29/10/2019 của Trung tâm Pháp y tỉnh Phú Thọ kết luận đối với anh L: Tỉ lệ tổn hại phần trăm sức khỏe của anh Trần Văn Phi L là 25% (Hai mươi lăm phần trăm), cơ chế hình thành vết thương là: Do tác động của vật cứng gây nên.

Ngày 30/12/2019 ông Hà Minh Đức là bố đẻ bị cáo D đã bồi thường cho anh L 30.000.000đ (Ba mươi triệu đồng).

Tại bản án hình sự sơ thẩm số: 09/2020/HSST ngày 09/3/2020 của Tòa án nhân dân huyện T, tỉnh Phú Thọ đã áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1, khoản 2, khoản 5 Điều 65 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Hà Văn D 30 tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội “Cố ý gây thương tích”.

Căn cứ khoản 2 Điều 48 của Bộ luật Hình sự. Xác nhận bị cáo Hà Văn D đã bồi thường xong trách nhiệm dân sự cho anh Trần Văn Phi L là 30.000.000đ (Ba mươi triệu đồng) theo giấy biên nhận tiền này 30/12/2019 giữa anh L và bố đẻ bị cáo D là ông Đức tại Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an huyện T.

Ngoài ra, bản án còn tuyên xử lý vật chứng, quyền kháng cáo, án phí và những vấn đề khác theo luật định.

Kháng cáo: Ngày 16/3/2020, bị hại Trần Văn Phi L kháng cáo bản án sơ thẩm và đề nghị giám định lại tổn hại sức khỏe, tăng hình phạt và tăng mức bồi thường lên mức 200 triệu đồng.

Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên. Bị hại Trần Văn Phi L và bị cáo Hà Văn D tự nguyện thỏa thuận bị cáo Hà Văn D phải bồi thường thêm số tiền 25 triệu đồng cho bị hại Trần Văn Phi L.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ có quan điểm căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355, Điểm b Khoản 2 Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự; đề nghị không chấp nhận đề nghị giám định lại và kháng cáo tăng hình phạt của bị hại Trần Văn Phi L, sửa một phần bản án sơ thẩm để xác nhận sự tự nguyện của bị cáo tại phiên tòa về bồi thường thêm tổn hại sức khỏe cho bị hại Trần Văn Phi L.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tố tụng: Kháng cáo của bị hại Trần Văn Phi L trong vụ án trong hạn luật định được xem xét giải quyết.

Về nội dung kháng cáo:

Xét đề nghị giám định lại của bị hại, Hội đồng xét xử thấy: Bị hại đề nghị giám định lại tổn hại sức khỏe nhưng không đưa ra được căn cứ nào để nghi ngờ tính chính xác của kết luận giám định mà chỉ trình bày mình thường xuyên bị đau đầu, chóng mặt, giảm sút trí nhớ. Tại biên bản làm việc ngày 21/11/2019 về việc thông báo kết luận giám định (bút lục 33), anh Trần Văn Phi L và ông Trần Văn D (bố đẻ anh L) đều đã được thông báo và đồng ý với kết luận giám định mà không có ý kiến gì khác. Do vậy, Hội đồng xét xử không chấp nhận đề nghị giám định lại của anh L.

Về kháng cáo tăng hình phạt: Căn cứ các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và tại phiên tòa hôm nay bị cáo đã khai nhận đã có hành vi phạm tội, phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, tại phiên tòa sơ thẩm, lời khai của người bị hại và những người liên quan, phù hợp với tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Bị cáo bị Tòa án nhân dân huyện T xử phạt 30 tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội "Cố ý gây thương tích" là đúng người, đúng tội, tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo cùng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo như: Thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, đã bồi thường thiệt hại do hành vi phạm tội của mình gây ra, bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo tại phiên tòa sơ thẩm. Bị cáo phạm tội lần đầu, có nơi cư trú, ổn định rõ ràng nên được hưởng án treo theo đúng luật định. Vì vậy, Hội đồng xét xử phúc thẩm không chấp nhận kháng cáo tăng hình phạt của anh L.

Về kháng cáo tăng mức bồi thường: Bản án sơ thẩm đã công nhận sự thỏa thuận của bị cáo và bị hại về mức bồi thường 30 triệu đồng tại phiên tòa sơ thẩm là đúng quy định pháp luật. Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Hà Văn D tự nguyện bồi thường thêm số tiền 25 triệu đồng về tổn hại sức khỏe cho bị hại Trần Văn Phi L và đề nghị Hội đồng xét xử xác nhận sự tự nguyện này trong bản án phúc thẩm. Do đó, Hội đồng xét xử phúc thẩm xét thấy cần sửa một phần bản án sơ thẩm, xác nhận sự tự nguyện bồi thường tổng cộng 55 triệu đồng bao gồm bồi thường tổn hại sức khỏe, chi phí điều trị, bồi thường tổn thất tinh thần của bị cáo Hà Văn D đối với bị hại Trần Văn Phi L.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ đề nghị Hội đồng xét xử sửa bản án sơ thẩm là phù hợp với nhận định, quan điểm của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

Về án phí: Bị hại thuộc trường hợp được miễn án phí.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

[1] Căn cứ Điểm b Khoản 1 Điều 355, Điểm b Khoản 2 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015. Sửa bản án sơ thẩm số 09/2020/HSST ngày 09/3/2020 của Tòa án nhân dân huyện T, tỉnh Phú Thọ.

[2] Căn cứ điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1, khoản 2, khoản 5 Điều 65 của Bộ luật Hình sự.

Tuyên bố bị cáo Hà Văn D phạm tội "Cố ý gây thương tích".

Xử phạt bị cáo Hà Văn D 30 (Ba mươi) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 60 (Sáu mươi) tháng tính từ ngày tuyên án. Bị cáo thực hiện các nghĩa vụ trong thời gian thử thách theo quy định của Luật Thi hành án hình sự.

Giao bị cáo Hà Văn D cho UBND xã V, huyện T, tỉnh Phú Thọ giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo Hà Văn D có trách nhiệm phối hợp với UBND xã V, huyện T, tỉnh Phú Thọ trong việc giám sát và giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách.

Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì việc giám sát và giáo dục bị cáo được thực hiện theo khoản 1 Điều 69 Luật Thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

[3] Căn cứ Điều 48 của Bộ luật Hình sự, Điều 5 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Xác nhận sự tự nguyện bồi thường tổn hại sức khỏe, chi phí điều trị, tổn thất tinh thần, tổng cộng 55.000.000 (Năm mươi triệu) đồng của bị cáo Hà Văn D đối với anh Trần Văn Phi L. Xác nhận bị cáo Hà Văn D đã bồi thường cho anh Trần Văn Phi L là 30.000.000đ (Ba mươi triệu đồng) theo giấy biên nhận tiền này 30/12/2019 giữa anh L và bố đẻ bị cáo D là ông Hà Minh Đức tại Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an huyện T. Bị cáo Hà Văn D còn phải bồi thường cho anh Trần Văn Phi L số tiền 25.000.000 (Hai mươi lăm) triệu đồng.

Kể từ khi bản án có hiệu lực pháp luật, bị hại có đơn yêu cầu thi hành án mà bị cáo vẫn chưa trả được số tiền trên thì còn phải chịu lãi đối với số tiền chậm trả được. Lãi suất phát sinh do chậm trả tiền được xác định theo Điều 357 Bộ luật dân sự.

Trường hợp bản án được thi hành theo Điều 2 luật thi hành án dân sự thì bị cáo và bị hại có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án, hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án dân sự thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

[4]Về án phí: Áp dụng điểm d khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án. Anh Trần Văn Phi L được miễn án phí phúc thẩm.

[5] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

Cỡ chữ