vanban.org

Bản án 85/2020/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương Tuyên án 26/05/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của UBTVQH quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:

Tuyên bố các bị cáo Bùi Hữu P, Nguyễn Ngọc T phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. / Về hình phạt: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "BÙI HỮU P VÀ ĐỒNG PHẠM - LỪA ĐẢO CHIẾM ĐOẠT TÀI SẢN - phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản (điều 174 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BL…"
  • Tòa quyết gì? Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của UBTVQH quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ THỦ DẦU MỘT
TỈNH BÌNH DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 85/2020/HS-ST
Ngày: 26/5/2020

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ DẦU MỘT, TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Thanh Tâm.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Văn Hiệp;

2. Bà Nguyễn Thị Mỹ Dung.

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Hồng Vân - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Thanh Hường - Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 5 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 79/2020/TLST-HS ngày 11 tháng 3 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 90/2020/QĐXXST-HS ngày 09 tháng 4 năm 2020 và Quyết định hoãn phiên tòa số 84/2020/QĐHPT- HS ngày 07 tháng 5 năm 2020 đối với các bị cáo:

1. Họ và tên: Bùi Hữu P (tên gọi khác T), sinh năm 1992. Tại: B. Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Không có nơi đăng ký hộ khẩu thường trú. Trình độ văn hóa: 8/12; Nghề nghiệp: Không; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; Cha (không rõ nhân thân, lai lịch); Mẹ Bùi Thị Kim L; bị cáo chưa có vợ con; tiền án, tiền sự: không; nhân thân: Ngày 05/01/2017 bị Công an thị xã Thuận An, tỉnh Bình Dương xử phạt vi phạm hành chính số tiền 750.000 đồng về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy” theo Quyết định số 31 ngày 11/01/2017; bị cáo bị bắt ngày 26/11/2019 và tạm giam cho đến nay; có mặt.

2. Họ và tên: Nguyễn Ngọc T, sinh năm 1990. Tại: B. Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Số 788/4, N, tổ 65, khu phố 6, phường P, thành phố T, tỉnh B. Trình độ văn hóa: 8/12. Nghề nghiệp: Không; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; Con ông Đái Văn H và bà Nguyễn Ngọc B; bị cáo có vợ Đỗ Thị T; bị cáo có 02 con; tiền án: không; tiền sự: Ngày 13/7/2018, bị Ủy ban nhân dân phường Phú Thọ, thành phố Thủ Dầu Một Quyết định áp dụng biện pháp giáo dục tại phường về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy” thời hạn 03 tháng theo Quyết định số 254/QĐ-UBND; bị cáo bị bắt ngày 26/11/2019 và tạm giam cho đến ngày 05/12/2019 được thay đổi biện pháp ngăn chặn (cấm đi khỏi nơi cư trú) và tại ngoại cho đến nay; có mặt.

- Bị hại: Ông Hồ Văn H, sinh năm 1995; địa chỉ: Ấp P, xã V, huyện G, tỉnh K.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Bà Bùi Thị Nam T, sinh năm 2000. Địa chỉ: Khu 12, phường C, thành phố T, tỉnh B. (vắng mặt)

2. Bà Nguyễn Thị Ngọc B, sinh năm 1971. Địa chỉ: Số 788/4, tổ 65, khu phố 6, phường P, thành phố T, tỉnh B.(vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Bùi Hữu P, Nguyễn Ngọc T và người nam tên Q (Hiện không xác định rõ họ tên và địa chỉ cư trú cụ thể) có quan hệ là bạn. Khoảng 11 giờ ngày 26/11/2019, khi P, T và Q đang ở nhà của T tại khu 6, phường Phú Thọ, thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương thì P và T thấy Q lấy vé số ra tẩy xóa và chỉnh sửa số trên dãy số trúng thưởng. Đến khoảng 18 giờ 30 phút cùng ngày, Q đưa cho P và T 02 (Hai) tờ vé số mệnh giá 10.000 (Mười nghìn) đồng cùng mang dãy số “960451” loại 11C phát hành ngày 19/11/2019, có kích thước 12,3 x 5,9 cm của Đài xổ số kiến thiết tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu và kêu P, T: “Có đổi được thì đổi lấy tiền tiêu xài” rồi bỏ đi. Lúc này, P và T nhìn thấy 02 (Hai) tờ vé số trên được sửa chữa cẩn thận, khó phát hiện các số bị chỉnh sửa và kiểm tra thì thấy 02 (Hai) tờ vé số này trúng được giải tư với số tiền 3.000.000 (Ba triệu) đồng/tờ nên P và T nảy sinh ý định đem 02 (Hai) tờ vé số đến các đại lý vé số đổi nhằm mục đích chiếm đoạt tiền của chủ đại lý vé số. Thực hiện ý định trên, T điều khiển xe mô tô hiệu Honda Vision, biển số 61B1-677.XX chở P đi tìm đại lý vé số để đổi tiền. Khi đi đến đại lý vé số của anh Hồ Văn H, sinh năm 1995, tại khu 6, phường Chánh Nghĩa, thành phố Thủ Dầu Một thì P và T ghé vào đổi. P lấy 02 (Hai) tờ vé số ra đưa cho anh H, anh H đối chiếu với kết quả xổ số ngày 19/11/2019 của đài xổ số tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu thì thấy 02 (Hai) tờ vé số trúng được số tiền 6.000.000 (Sáu triệu) đồng nên anh H lấy tiền đưa cho P, trong lúc P kiểm đếm tiền thì anh H kiểm tra lại 02 (Hai) tờ vé số và phát hiện 02 (Hai) tờ vé số đã bị tẩy xóa và sửa chữa lại nên anh H truy hô thì cùng lúc này lực lượng Công an phường Chánh Nghĩa đang tuần tra trên đường đã vào kiểm tra, phát hiện và lập Biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với P và T về hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản đồng thời thu giữ được số vật chứng, gồm: 02 (Hai) tờ vé số mệnh giá 10.000 đồng cùng mang dãy số “960451” loại 11C phát hành ngày 19/11/2019 có kích thích (12,3 cm x 5,9 cm) của đài xổ số kiến thiết tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu và 01 (Một) xe mô tô hiệu Honda Vision, biển số 61B1-677.XX. Cùng ngày, Công an phường Chánh Nghĩa chuyển hồ sơ vụ việc đến Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thành phố Thủ Dầu Một để xử lý theo thẩm quyền.

Ngày 02/12/2019, Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Dương ra Kết luận giám định số 503/GĐ-PC54 đối với hai tờ vé số kiến thiết tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu phát hành ngày 19/11/2019 của Bùi Hữu P và Nguyễn Ngọc T có nội dung như sau: 02 (Hai) tờ vé số mệnh giá 10.000 đồng cùng mang dãy số “960451” loại 11C phát hành ngày 19/11/2019 có kích thích (12,3 cm x 5,9 cm) của đài xổ số kiến thiết tỉnh Bà Rịa

- Vũng Tàu ký hiệu A1 và A2 “bị tẩy xóa và sửa chửa”. Nội dung trước khi bị tẩy xóa và sửa chữa được xác định là dãy số “966454” và sau khi tẩy xóa là dãy số “960451”.

Đối với số tiền 6.000.000 (Sáu triệu) đồng là tài sản của anh Hồ Văn H nên Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thành phố Thủ Dầu Một đã trả lại cho anh H theo Quyết định xử lý vật chứng số 29/QĐ-CSĐT-ĐTTH ngày 02/12/2019. Hiện tại, anh H không yêu cầu bồi thường gì thêm.

Đối với xe mô tô hiệu Honda Vision, biển số 61B1-677.XX, quá trình điều tra, xác định: Xe mô tô trên do chị Bùi Thị Nam T, sinh năm 2000, cư trú tại khu 12, phường C, thành phố T, tỉnh B đứng tên trên Giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô. Qua làm việc, chị T khai nhận: Tháng 4/2016, chị T mua và sử dụng xe mô tô biển số 61B1-677.XX, đến khoảng tháng 12/2017 chị bị lấy trộm xe mô tô trên. Qua làm việc với bà Nguyễn Thị Ngọc B, sinh năm 1971, cư trú tại khu 6, phường P, thành phố T (Bà B là mẹ của Nguyễn Ngọc T), xác định: Xe mô tô trên do bà mua lại của người nữ (Không rõ họ tên và địa chỉ cư trú cụ thể) và việc mua bán không làm hợp đồng mua bán, ngày 26/11/2019 bà B cho T mượn xe mô tô trên để đi công việc, bà B không biết việc T dùng xe mô tô trên làm phương tiện thực hiện hành vi phạm tội. Do cần thêm thời gian để xác minh, làm rõ vụ việc trên nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Thủ Dầu Một giữ lại xe mô tô biển số 61B1-677.XX để tiếp tục điều tra, xử lý sau.

Cáo trạng số 99/CT-VKS-HS ngày 10/3/2020 của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương truy tố bị cáo Bùi Hữu P, Nguyễn Ngọc T về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo khoản 1 Điều 174 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Dầu Một trong phần tranh luận giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo Bùi Hữu P, Nguyễn Ngọc T đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử:

- Áp dụng khoản 1 Điều 174; điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 38, Điều 58 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Bùi Hữu P mức hình phạt từ 06 đến 09 tháng tù.

- Áp dụng khoản 1 Điều 174; điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 38, Điều 58 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Ngọc T mức hình phạt từ 06 đến 09 tháng tù.

Về trách nhiệm dân sự: Không đề nghị Hội Đồng xét xử xem xét, giải quyết.

Về biện pháp tư pháp: Không có.

Bị cáo Bùi Hữu P, Nguyễn Ngọc T không có ý kiến tranh luận, chỉ xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Dầu Một, Kiểm sát viên trong quá trình khởi tố, điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục tố tụng theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, quyết định, hành vi tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên tòa, bị cáo Bùi Hữu P, Nguyễn Ngọc T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản hỏi cung bị can, lời khai của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan cùng các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Đủ cơ sở kết luận: Khoảng 18 giờ 30 phút ngày 26/11/2019 tại đại lý vé số của ông Hồ Văn H thuộc phường C, thành phố T, tỉnh B, Bùi Hữu P và Nguyễn Ngọc T đã có hành vi dùng thủ đoạn gian dối sử dụng 02 (Hai) tờ vé số mệnh giá 10.000đ (Mười nghìn đồng) mang dãy số “966454” loại 11C phát hành ngày 19/11/2019 của đài xổ số kiến thiết tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu đã tẩy xóa, sửa chữa thành dãy số “960451” để đổi số trúng ở giải tư nhằm mục đích chiếm đoạt số tiền 6.000.000 (Sáu triệu đồng) của ông Hòa thì bị phát hiện bắt giữ nên hành vi mà bị cáo P, T thực hiện đã hội đủ yếu tố cấu thành tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” được qui định tại khoản 1 Điều 174 của Bộ luật Hình sự. Các bị cáo có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự. Do vậy, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương truy tố bị cáo theo tội danh và điều khoản như trên là hoàn toàn có căn cứ và đúng pháp luật.

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự, trị an tại địa phương nơi xảy ra vụ án. Các bị cáo là thanh niên trẻ có sức khỏe nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vì tham lam, lười lao động mà các bị cáo đã bất chấp sự trừng phạt của pháp luật thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp. Xét vai trò của các bị cáo thấy: Đây là vụ án đồng phạm giản đơn, sau khi được Q (không rõ nhân thân, lai lịch) đưa cho 02 tờ vé số đã chỉnh sửa. T điều khiển xe chở P đi tìm đại lý bán vé số để đổi tiền, khi đến tiệm vé số của ông H, P là người trực tiếp giao dịch đổi số, lấy tiền trúng. Cả hai bị cáo tham gia vào vụ án với vai trò ngang nhau, các bị cáo đều có nhân thân xấu đã bị xử lý hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy nên Hội đồng xét xử cần xử phạt các bị cáo mức hình phạt nghiêm tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội mà mỗi bị cáo đã thực hiện, cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để răn đe, giáo dục các bị cáo đồng thời cũng nhằm phòng ngừa tội phạm chung.

Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng.

Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, các bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, các bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trong. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự mà Hội đồng xét xử áp dụng khi quyết định hình phạt đối với các bị cáo.

Đối chiếu với các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, căn cứ vào nhân thân bị cáo, xét mức hình phạt mà đại diện Viện Kiểm sát đề nghị đối với bị cáo là phù hợp nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại ông Hồ Văn H đã nhận lại số tiền 6.000.000đ (Sáu triệu đồng) và không có yêu cầu gì khác nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.

Về biện pháp tư pháp: Đối với xe mô tô hiệu Honda Vision biển số 61B1-677.XX mà T sử dụng làm phương tiện phạm tội qua điều tra xác định: Bà Nguyễn Thị Ngọc B, sinh năm 1971 (là mẹ của Nguyễn Ngọc T) mua lại chiếc xe mô tô trên của người nữ (không rõ họ tên và địa chỉ cư trú cụ thể) và việc mua bán không làm hợp đồng mua bán. Ngày 26/11/2019 bà Bích cho T mượn xe mô tô trên để đi công việc và T đã dùng xe mô tô trên làm phương tiện thực hiện hành vi phạm tội. Theo phiếu trả lời xác minh của phòng PC08 Công an tỉnh Bình Dương, lời khai của bà Bùi Thị Nam T xác định: Bà T là người đứng tên trên Giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô hiệu Honda Vision biển số 61B1 - 677.XX, quá trình sử dụng khoảng tháng 12/2017 bà T bị lấy trộm chiếc xe mô tô trên và không tìm được cho đến nay vì vậy Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Thủ Dầu Một giữ lại xe mô tô biển số 61B1-677.XX để tiếp tục điều tra, xử lý sau là phù hợp với qui định pháp luật.

Về án phí sơ thẩm: Các bị cáo phải nộp theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 136, 260 và 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự;

Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của UBTVQH quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:

Tuyên bố các bị cáo Bùi Hữu P, Nguyễn Ngọc T phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.

1./ Về hình phạt:

1.1. Áp dụng khoản 1 Điều 174; điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 38, Điều 58 của Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Bùi Hữu P 09 (chín) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày 26/11/2019.

1.2. Áp dụng khoản 1 Điều 174; điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 38, Điều 58 của Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T 09 (chín) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bắt bị cáo thi hành án được khấu trừ thời gian tạm giữ trước đây từ ngày 26/11/2019 đến ngày 05/12/2019.

2./ Về trách nhiệm dân sự: không xem xét, giải quyết.

3./ Về án phí: Buộc các bị cáo Bùi Hữu P, Nguyễn Ngọc T mỗi bị cáo phải nộp 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày Tòa tuyên án. Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được niêm yết công khai./.

Cỡ chữ