- Tranh chấp gì? án hình sự — "Vụ án hình sự - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Xử phạt Lê Đình H 12 (Mười hai) tháng tù về tội về tội "Trộm cắp tài sản"; thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 09/3/2020.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỲNH LƯU TỈNH NGHỆ AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 85/2020/HS-ST Ngày 29-5-2020 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỲNH LƯU, TỈNH NGHỆ AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hồ Sỹ Mạnh
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Minh Chính và Bà Hồ Thị Huệ
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hằng - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳnh lưu tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Thúy Nga – Kiểm sát viên.
Trong ngày 29 tháng 5 năm 2020 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 77/2020/TLST-HS ngày 12 tháng 5 năm 2019; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 122/2020/QĐXXST-HS, ngày 15 tháng 5 năm 2019 đối với bị cáo:
Lê Đình H (tên gọi khác: Không); sinh ngày 02/5/1993; nơi sinh: huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An; nơi cư trú: Xóm R, xã T, huyện Q, tỉnh N; nghề ngH: Lao động tự do; trình độ V hóa: 9/12; dân tộc: Kinh; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Không; giới tính: Nam; con ông Lê Đình S (đã chết); con bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1956; có vợ Lê Thị H, sinh năm 1993; con: Có 01 người sinh năm 2016. Tiền sự: Không; Tiền án: Ngày 27/11/2018 bị Tòa án nhân dân huyện Quỳnh Lưu xử phạt 18 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản; chấp hành xong án phạt tù ngày 04/11/2019. Bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 09/3/2020 cho đến nay – Có mặt.
* Bị hại:
- Anh Hồ Khắc V, sinh năm 1974 – Có mặt.
Nơi cư trú: Xóm E, xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An.
- Anh Nguyễn V N, sinh năm 1989 – Vắng mặt.
Nơi cư trú: Xóm R, xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Chị Lê Thị H, sinh năm 1993 – Có mặt.
Nơi cư trú: Xóm T, xã T, huyện Q, tỉnh Nghệ An.
- Chị Đào Thị H, sinh năm 1982 – Có mặt.
Nơi cư trú: Xóm T, xã T, huyện Q, tỉnh Nghệ An.
* Người làm chứng: Chị Nguyễn Thị T, sinh năm 1977 – Có mặt.
Nơi cư trú: Xóm A, xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Trong khoảng thời gian từ ngày 16/2/2020 đến ngày 08/3/2020 Lê Đình H đã thực hiện 02 lần trộm cắp tài sản, cụ thể như sau:
Lần thứ 1: Vào rạng sáng ngày 16/02/2020 Lê Đình H chuẩn bị hai chiếc cờ lê (cỡ 13 và cỡ 17) và một chiếc kìm cộng lực rồi điều khiển xe máy nhãn hiệu Wave biển kiểm soát 37L5 – 3381 của bố vợ của H cho vợ chồng H (đăng ký mang tên Lê Xuân P sinh năm 1959, trú tại xóm 7, xã Phúc Thọ, huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An) đi đến xóm G, xã Q, huyện Q để trộm cắp tài sản. Khi đi đến trước nhà anh Hồ Khắc V, sinh năm 1974, trú tại xóm 8, xã Q, huyện Quỳnh Lưu phát hiện thấy có một chiếc xe ô tô tải nhãn hiệu THACO, biển kiểm soát 37S – 6182 của anh V đang dựng ở mép đường phía Bắc, cạnh đốc nhà của anh V và không có người trông coi nên H đến quan sát thấy trên xe ô tô có một chiếc ắc quy nhãn hiệu DONG NAI Pinaco màu trắng, loại N85 – 12V để trong giá sắt ở hông xe bên trái. H đã dùng kìm cộng lực cắt thanh sắt bảo vệ phía trên giá đỡ rồi lấy trộm chiếc ắc quy đem về nhà cất dấu ở chuồng gà nhà mình. Khoảng 10 ngày sau (không nhớ ngày cụ thể), H mang đến bán cho chị Nguyễn Thị Thường, sinh năm 1977, trú tại xóm 10A, xã Quỳnh Châu là người thu mua sắt vụn với giá 300.000 đồng và dùng tiêu xài cá nhân hết.
Lần thứ 2: Vào khoảng 02 giờ ngày 08/3/2020 H điều khiển xe máy biển kiểm soát 37L5 – 3381 từ nhà mình ở đi trộm cắp tài sản. H đi theo đường liên xã đến xóm Tân Hưng rồi đi qua xóm 10, xã Quỳnh Châu để đi ra đường Tăng (đường dành cho xe tăng của lữ đoàn 215 chạy ra trường bắn). Khi đi đến đoạn đường giao nhau với đường quốc lộ 48 thì H dừng xe tại mép đường Tăng cạnh nhà anh Nguyễn V N, sinh năm 1989, trú tại xóm T, xã Q rồi đi vào bờ ao nhà anh N lấy một bao bì tải màu trắng. Sau khi lấy được bì tải H tiếp tục đi vào chuồng bò thấy có một đàn gà đang đậu ở trên chuồng bò và trong lồng sắt ở cạnh chuồng bò nên đã bắt 02 con gà trống (loại gà chọi) cho vào bì (trong đó 01 con màu đỏ tía nặng 3,5kg và 01 con màu xám nâu nặng 2,9kg) mang về nhà. Khi về đến nhà khoảng 03 giờ 30 phút cùng ngày, H mở bì ra thấy con gà màu xám nâu bị chết nên H làm thịt để ăn; còn con gà màu đỏ tía bỏ vào chuồng gà nhà mình để nuôi.
Sáng ngày 08/3/2020 anh N ra chuồng gà để cho gà ăn thì phát hiện bị mất hai con gà trống chọi nên đã làm đơn trình báo lên Công an huyện Quỳnh Lưu. Ngày 09/3/2020 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An đã khám xét chỗ ở của H đã phát hiện và thu giữ một con gà trống chọi lông màu đỏ tía nặng 3,5kg; một chiếc kìm cộng lực dài 87cm hai đầu cán bọc nhựa màu đỏ; một chiếc xe máy nhãn hiệu Wave, màu xanh, biển kiểm soát 37L5 – 3381.
Ngày 15/3/2020 chị Đào Thị H sinh năm 1982, trú tại xóm 5, xã Tân Sơn, huyện Quỳnh Lưu (chị dâu của H) đã giao nộp cho Cơ quan Cảnh sát điều tra 02 chiếc cờ lê (một cái cỡ 13 và một cái cỡ 17) bằng kim loại, màu trắng.
Kết luận định giá số 80 ngày 17/3/2020 của Hội đồng định giá tài sản huyện Quỳnh Lưu xác định các tài sản tại thời điểm bị chiếm đoạt cụ thể là: Chiếc ắc quy nhãn hiệu DONGNAI Pinaco màu trắng, loại N85 – 12V của anh Hồ Khắc V là 1.200.000 đồng; 01 con gà trống chọi màu đỏ tía, đã có cựa nặng 3,4 kg là 510.000 đồng và 01 con gà trống chọi màu nâu xám nặng 2,9 kg là 435.000 đồng. Tổng giá trị tài sản mà H trộm cắp của anh Năm và anh V là 2.145.000 đồng.
Anh V yêu cầu H bồi thường số tiền số tiền 1.200.000 đồng; Anh N yêu cầu H bồi thường 01 con gà chọi màu nâu xám số tiền 2.000.000 đồng.
Tại phiên tòa bị cáo Lê Đình H đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như đã nêu trên.
Bản cáo trạng số 92/CT-VKS-HS ngày 11/5/2020 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳnh Lưu truy tố bị cáo Lê Đình H về tội "Trộm cắp tài sản" theo điểm khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 BLHS.
Xử phạt bị cáo Lê Đình H từ 12 đến 15 tháng tù về tội "Trộm cắp tài sản"; không phạt tiền bổ sung đối với bị cáo.
Về trách nhiệm dân sự: Đề nghị áp dụng Điều 48 BLHS; Điều 30 BLTTHS; Điều 589 BLDS.
Buộc bị cáo phải bồi thường cho anh Hồ Khắc V số tiền 1.200.000 đồng.
Buộc bị cáo phải bồi thường cho anh Nguyễn V Năm số tiền 435.000 đồng.
- Áp dụng Điều 106 BLTTHS; Điều 47 BLHS: Tịch thu hóa sung quỹ nhà nước 01 chiếc kìm cộng lực, 02 (01 chiếc cỡ 13, 01 chiếc cỡ 17) là công cụ, phương tiện phạm tội.
Về vật chứng trả lại cho chị Lê Thị H 01 máy nhãn hiệu Wave, màu xanh, biển kiểm soát 37L5 – 3381.
Về án phí: Căn cứ Điều 136 BLTTHS; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định án phí và lệ phí Tòa án; Buộc bị cáo Lê Đình H phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên; Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Tại phiên toà bị cáo Lê Đình H đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội đúng như cáo trạng đã truy tố; Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và các tài liệu trong hồ sơ có đủ căn cứ xác định: Lần thứ 1: Rạng sáng ngày 16/02/2020 Lê Đình H đã trộm cắp của anh Hồ Khắc V một chiếc ắc quy nhãn hiệu DONGNAI Pinaco màu trắng, loại N85 – 12V có giá trị là 1.200.000 đồng. Lần thứ 2: Khoảng 02 giờ, ngày 08/3/2020, Lê Đình H đã trộm cắp hai con gà trống, loại gà chọi, của anh Nguyễn V Năm có tổng giá trị là 945.000 đồng. Hành vi mà bị cáo thực hiện đủ yếu tố cấu thành tội "Trộm cắp tài sản"; tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự như quy kết của đại diện Viện kiểm sát là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Xét tính chất của vụ án có tính chất ít nghiêm trọng; Bị cáo Lê Đình H là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự. Thực hiện hành vi cố ý trực tiếp trộm cắp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an trên địa bàn dân cư, thể hiện sự xem thường pháp luật. Ngày 27/11/2018 bị Tòa án nhân dân huyện Quỳnh Lưu xử phạt 18 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản; chấp hành xong án phạt tù ngày 04/11/2019 trở về địa phương chưa được xóa án tích. Bị cáo không coi đó là bài học để rèn luyện cho bản thân trở thành người tốt mà còn tiếp tục trộm cắp tài sản. Do đó, cần áp dụng hình phạt tù có thời hạn, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới đủ điều kiện cảm hóa, giáo dục bị cáo trở thành công dân tốt.
Về tình tiết tặng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Quá trình điều tra, truy tố, xét xử bị cáo thành khẩn khai báo là tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS nên cần xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo khi lượng hình thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.
Bị cáo lao động tự do, không có tài sản riêng nên không áp dụng phạt tiền bổ sung đối với bị cáo.
Quá trình điều tra, H còn khai nhận: Vào khoảng 01 giờ, ngày 11/02/2020, H đã dùng kìm cộng lực cắt dây điện và trộm cắp hai chiếc ắc quy nhãn hiệu DONGNAI, màu trắng, loại 12 vôn để trên một chiếc xe ô tô tải đang đậu ở mép đường thuộc xóm Tuần A, xã Quỳnh Châu, huyện Quỳnh Lưu rồi đưa về nhà mình cất dấu. Đến cuối tháng 2/2020 đã mang hai chiếc ắc quy trộm cắp được đến bán cho chị Nguyễn Thị Thường, sinh năm 1977, trú tại xóm 10A, xã Quỳnh Châu là người thu mua sắt vụn với giá 560.000 đồng. Hai chiếc ắc quy H trộm cắp được Hội đồng định giá huyện Quỳnh Lưu xác định có giá trị tại thời điểm bị chiếm đoạt là 2.200.000đ. Tuy nhiên, quá trình điều tra chưa đủ tài liệu chứng cứ để chứng minh hành vi trộm cắp tài sản nêu trên nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Quỳnh Lưu sẽ tiếp tục điều tra xác minh, khi nào có đủ căn cứ sẽ xử lý sau.
Ngoài ra, anh Hồ Khắc V khai ngày 30/12/2019 tại xã Quỳnh Châu, huyện Quỳnh Lưu bị mất 02 chiếc ắc quy nhãn hiệu Pinaco, loại N85 mua cuối năm 2018. Nhưng quá trình điều tra, không có cơ sở để chứng minh H là người thực hiện hành vi trộm cắp hai chiếc ắc quy như anh V khai nên không có căn cứ để xử lý; Cơ quan điều tra sẽ tiếp tục xác minh làm rõ và xử lý sau.
Đối với chiếc kìm cộng lực mà bị cáo sử dụng vào việc phạm tội nên tuyên tịch thu hóa giá sung quỹ nhà nước.
Tại phiên tòa chị Lê Thị H trình bày xin nhận lại chiếc xe máy 37L5-3381 để làm phương tiện đi lại. Đây là tài sản chung của chị H và bị cáo nên tuyên trả lại cho chị H.
Đối với hai chiếc cờ lê (01 chiếc cỡ 13, 01 chiếc cỡ 17), tại phiên tòa chị Đào Thị Hạ không có nhu cầu nhận lại nên tuyên hóa giá sung quỹ nhà nước.
Đối với chị Nguyễn Thị Thường là người đã mua của H 01 bình ắc quy; nhưng quá trình mua các tài sản trên thì chị Thường không biết đó là những tài sản do trộm cắp mà có. Vì vậy, chị Thường không phải chịu trách nhiệm hình sự.
Về trách nhiệm dân sự:
Đối với chiếc ắc quy của anh Hồ Khắc V bị H lấy trộm ngày 16/2/2020 quá trình điều tra không thu hồi được. Do đó buộc bị cáo phải bồi thường cho anh V số tiền 1.200.000đ.
Đối với 01 con gà của anh N bị Hiện bắt trộm không thu hồi được, đã được định giá là 435.000đ. Anh N yêu cầu bị cáo phải bồi thường 2.000.000đ, nhưng anh N không xuất trình được tài liệu chứng minh tài sản bị chiếm đoạt có giá 2.000.000đ. Do vậy chỉ có căn cứ buộc bị cáo bồi thường cho anh Năm 435.000đ.
Về án phí: Bị cáo Lê Đình H phải chịu án phí hình sự và án phí dân sự theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự.
Xử phạt Lê Đình H 12 (Mười hai) tháng tù về tội về tội "Trộm cắp tài sản"; thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 09/3/2020.
Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ Điều 48 BLHS; Điều 30 BLTTHS; Điều 30 BLTTHS; Điều 589 BLDS.
Buộc bị cáo phải bồi thường cho anh Hồ Khắc V số tiền 1.200.000 đồng.
Buộc bị cáo phải bồi thường cho anh Nguyễn V N số tiền 435.000 đồng.
Căn cứ Điều 47 BLHS; Điều 106 BLTTHS: Tịch thu hóa sung quỹ nhà nước 01 chiếc kìm cộng lực, 02 (01 chiếc cỡ 13, 01 chiếc cỡ 17). Trả lại cho chị Lê Thị H 01 máy nhãn hiệu Wave, màu xanh, biển kiểm soát 37L5 – 3381 (Đặc điểm các vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng được lập vào hồi 15 giờ ngày 06 tháng 5 năm 2020 giữa cơ quan điều tra công an huyện Quỳnh Lưu với Chi cục Thi hành án dân sự huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An).
- Về án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án.
Buộc bị cáo Lê Đình H phải nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
Kể từ ngày Quyết định có hiệu lực pháp luật (Đối với các trường hợp cơ quan Thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (Đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 điều 468 Bộ luật Dân sự.
Quyết định này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự; người được thi hành án, người phải thi hành án có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày được tống đạt, niêm yết hợp lệ.
| Nơi nhận: - Bị cáo, Bị hại; - Người có quyền lợi, liên quan; - VKSND h.Quỳnh Lưu; - Cơ quan điều tra h.Quỳnh Lưu; - Cơ quan Thi hành án hình sự h.Quỳnh Lưu; - VKSND tỉnh Nghệ An; - TAND tỉnh Nghệ An; - Sở tư pháp Nghệ An; - Thi hành án hình sự; - UBND xã T; - Chi cục THADS h.Quỳnh Lưu; - Lưu HS,VP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHÊN TÒA Đã ký Hồ Sỹ Mạnh |