vanban.org

Bản án 85/2020/HN-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Bản án số 85/2020/HNGĐ - ST ngày 24/11/2020

1/ Về quan hệ hôn nhân: Không công nhận anh Trần Tâm B và chị Lê Thị B1 là vợ chồng. 2/ Về con chung: Ghi nhận sự tự nguyện của anh B, chị B1 và nguyện vọng của 02 cháu Nh, Tr. Tiếp tục giao 02 cháu Trần Chí Nh (sinh ngày 21/12/2008, giới tính nam) và cháu Trần Thị Ngọc Tr (sinh ngày 30/11/2011, giớ… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "nguyên đơn Trần Tâm B, bị đơn Lê Thị B1"
  • Tòa quyết gì? Bản án số 85/2020/HNGĐ - ST ngày 24/11/2020
  • Căn cứ chính? Điều 14 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 266 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN AN MINH
TỈNH KIÊN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 85/2020/HNGĐ-ST
Ngày: 24/11/2020
V/v: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN MINH, TỈNH KIÊN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trịnh Thị Cẩm Lình.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Dương Văn Nghĩa và bà Hồ Thị Hoa.

- Thư ký phiên tòa: Ông Cao Vũ Linh, Thư ký Tòa án nhân dân huyện An Minh, tỉnh Kiên Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện An Minh tham gia phiên toà: Ông Trần Văn Ý, Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 11 năm 2020 tại Tòa án nhân dân huyện An Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 259/2020/TLST - HNGĐ ngày 05 tháng 10 năm 2020 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 149/2020/QĐXXST-HN ngày 27 tháng 11 năm 2020, giữa các đương sự:

* Nguyên đơn: Anh Trần Tâm B, sinh năm: 1989. Địa chỉ: Ấp K Q A2, xã V Kh T, huyện An Minh, tỉnh Kiên Giang. (Có mặt)

* Bị đơn: Chị Lê Thị B1 , sinh năm: 1988. Địa chỉ: Ấp K N, xã V Kh, huyện An Minh, tỉnh Kiên Giang. (Có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện ngày 16/7/2020 và trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn anh Trần Tâm B trình bày và yêu cầu như sau: Anh và chị B1 chung sống với nhau từ năm 2007 nhưng không có đăng ký kết hôn. Cả hai tự nguyện đi đến hôn nhân. Sau khi đám cưới thì anh chị về sinh sống riêng tại ấp K N, xã V Kh cho đến tháng 09/2019 thì ly thân cho đến nay.

Trong quaù trình vợ chồng chung soáng thì anh chị phaùt sinh maâu thuaãn. Nguyeân nhaân maâu thuẫn laø do vợ chồng luôn bất đồng quan điểm, tính tình không hòa hợp, thường xuyên cự cãi, mâu thuẫn vợ chồng không thể hàn gắn được. Bản án số 85/2020/HNGĐ - ST ngày 24/11/2020

- Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung cháu Trần Chí Nh, sinh ngày 21/12/2008 và cháu Trần Thị Ngọc Tr, sinh ngày 30/11/2011. 02 cháu chung sống cùng anh B từ khi anh B và chị B1 ly thân đến nay.

- Về tài sản chung và nợ chung: Trong thời gian chung sống, anh chị không có tài sản chung và không phát sinh nợ chung.

Do xét thấy, mâu thuẫn vợ chồng không thể hàn gắn được nên anh B yêu cầu được ly hôn với chị B1 ; yêu cầu được nuôi cháu Nh và Tr, không yêu cầu chị B1 cấp dưỡng nuôi con; tài sản và nợ chung không có nên không yêu cầu giải quyết.

* Trong quá trình giải quyết vụ án, chị Lê Thị B1 trình bày và yêu cầu như sau:

Chị xác nhận, chị và anh B chung soáng vôùi nhau từ năm 2007 nhưng không thực hiện việc đăng ký kết hôn theo quy định; có 02 con chung; không có tài sản chung và không có nợ chung. Nguyên nhân mâu thuẫn giữa chị và anh B như lời anh B trình bày là đúng. Nay, chị xét thấy hôn nhân của anh chị không hàn gắn được nữa nên chị đồng ý ly hôn với anh B.

- Veà quan heä con chung: Chị đồng ý giao 02 cháu Nhuận và Trúc cho anh B tiếp tục nuôi dưỡng, chị không cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung và nợ chung: Không có tranh chấp nên không yêu cầu giải quyết.

* Tại phiên tòa:

- Ý kiến anh B: Được ly hôn với chị B1 ; yêu cầu được tiếp tục nuôi 02 con chung, không yêu cầu chị B1 cấp dưỡng nuôi con; tài sản và nợ chung không có tranh chấp nên anh không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Ý kiến chị B1 : Đồng ý ly hôn với anh B; đồng ý giao 02 con chung cho anh B tiếp tục nuôi dưỡng; tài sản và nợ chung không có tranh chấp nên chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Kiểm sát viên phát biểu quan điểm giải quyết vụ án: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án đã thực hiện đầy đủ, đúng trình tự, thủ tục theo quy định pháp luật tố tụng dân sự; Đối với các đương sự thì từ khi thụ lý vụ án đến nay các đương sự đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định.

Về quan điểm giải quyết vụ án: Đề nghị HĐXX áp dụng khoản 1 Điều 14 và khoản 2 Điều 53, Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, không công nhận Bản án số 85/2020/HNGĐ - ST ngày 24/11/2020 anh Trần Tâm B và chị Lê Thị B1 là vợ chồng; giao cháu Nh và cháu Tr cho anh B tiếp tục nuôi dưỡng theo nguyện vọng của 02 cháu.

.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử (gọi tắt là HĐXX) nhận định như sau:

Về thủ tục tố tụng: Nguyên đơn anh Trần Tâm B khởi kiện yêu cầu ly hôn với chị Lê Thị B1 là tranh chấp dân sự về hôn nhân và gia đình. Qua yêu cầu của các đương sự trong vụ án được xác định mối quan hệ pháp luật là “Ly hôn, tranh chấp nuôi con”.

Về quan hệ hôn nhân: Anh Trần Tâm B và chị Lê Thị B1 chung sống từ năm 2007 nhưng anh chị không thực hiện việc đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật tại cơ quan có thẩm quyền (UBND xã, phường, thị trấn nơi cả hai cư trú) và cho đến khi anh B có đơn khởi kiện yêu cầu ly hôn đối với chị B1 thì anh chị vẫn không thực hiện việc đăng ký kết hôn. Như vậy là vi phạm theo Điều 9 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 mặc dù anh chị chung sống trên cơ sở tự nguyện, không vi phạm các điều kiện kết hôn.

Do đó, HĐXX căn cứ vào khoản 1 Điều 14 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng giữa anh B và chị B1 .

Về quan hệ con chung: Anh B và chị B1 xác nhận, trong quá trình chung sống, anh chị có 02 con chung là cháu Trần Chí Nh (sinh ngày 21/12/2008, giới tính nam) và cháu Trần Thị Ngọc Tr (sinh ngày 30/11/2011, giới tính nữ). Hiện nay, 02 cháu đang chung sống cùng anh B. Trong quá trình giải quyết anh chị tự thỏa thuận giao cháu Nh và Tr cho anh B tiếp tục nuôi dưỡng. HĐXX xét thấy, việc thỏa thuận này của anh chị là tự nguyện không ai ép buộc và phù hợp với nguyện vọng của 02 cháu nên HĐXX ghi nhận.

Về tài sản chung và nợ chung: Anh B và chị B1 xác nhận, trong thời gian chung sống anh chị không có tài sản chung, không có phát sinh nợ chung nên HĐXX miễn xét. Nhưng sau khi ly hôn, trường hợp có phát sinh nợ chung trong thời kỳ hôn nhân của anh B và chị B1 thì anh chị vẫn có nghĩa vụ liên đới.

Về án phí dân sự sơ thẩm: Anh B phải chịu án phí ly hôn số tiền là 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng).

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 266 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Bản án số 85/2020/HNGĐ - ST ngày 24/11/2020

Áp dụng khoản 1 Điều 14, khoản 2 Điều 53 và Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Khoản 4 điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Xử:

1/ Về quan hệ hôn nhân: Không công nhận anh Trần Tâm B và chị Lê Thị B1 là vợ chồng.

2/ Về con chung: Ghi nhận sự tự nguyện của anh B, chị B1 và nguyện vọng của 02 cháu Nh, Tr. Tiếp tục giao 02 cháu Trần Chí Nh (sinh ngày 21/12/2008, giới tính nam) và cháu Trần Thị Ngọc Tr (sinh ngày 30/11/2011, giới tính nữ) cho anh B trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục.

Anh B không yêu cầu chị B1 cấp dưỡng nuôi con sau khi ly hôn nhưng khi cần thiết, anh B có quyền yêu cầu chị B1 cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.

Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con, không ai được cản trở. Người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

3/ Về án phí dân sự sơ thẩm: Anh Trần Tâm B chịu án phí ly hôn là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) được trừ vào tiền tạm ứng án phí mà anh đã nộp số tiền là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo lai thu 0005941 ngày 09/9/2020 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện An Minh, tỉnh Kiên Giang. Anh B đã nộp án phí xong.

4/ Quyền kháng cáo: Anh B và chị B1 vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn luật định là 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ