- Tranh chấp gì? án dân sự — "Tranh chấp hợp đồng vay tài sản giữa Ngân hàng C với ông Nguyễn Văn D và bà Lê Thị H"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu của Ngân hàng C. Buộc ông Huỳnh Văn D và bà Lê Thị H có nghĩa vụ liên đới trả cho Ngân hàng C số tiền gốc và lãi suất tính đến ngày 20 tháng 8 năm 2020 với số tiền tổng cộng là 44.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 26 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ TÂN TỈNH CÀ MAU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| _____ Bản án số: 85/2020/DS-ST Ngày: 20-8-2020 V/v “tranh chấp hợp đồng vay tài sản”. |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ TÂN, TỈNH CÀ MAU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Việt Triều.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Trần Hoàng Giang.
Bà Phạm Hồng Ân.
- Thư ký phiên tòa: Ông Châu Sơn Ca là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau tham gia phiên tòa: Ông Phan Văn Hậu – Kiểm sát viên.
Ngày 20 tháng 8 năm 2020 tại Tòa án nhân dân huyện Phú Tân xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 220/2020/TLST-DS ngày 18 tháng 5 năm 2020 về việc “tranh chấp hợp đồng vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 193/2020/QĐXXST-DS ngày 13 tháng 7 năm 2020, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ngân hàng C.
Địa chỉ: Số X, Phố L, phường H, quận H, Thành phố H.
Đại diện theo pháp luật ông Dương Quyết T – Tổng giám đốc.
Đại diện theo ủy quyền ông Phạm Công K – Phó giám đốc Phòng giao dịch Ngân hàng C huyện Phú Tân.
Theo Quyết định ủy quyền số 7300/QĐ-NHCS ngày 19 tháng 9 năm 2019 của Tổng giám đốc Ngân hàng C và giấy ủy quyền số 189/UQ-PGD ngày 23 tháng 9 năm 2019 của Giám đốc Phòng giao dịch Ngân hàng C huyện P.
- Bị đơn:
-1-
1. Ông Huỳnh Văn D, 1948 (vắng mặt).
2. Bà Lê Thị H (vắng mặt)
Nơi cư trú: Ấp D, xã V, huyện P, tỉnh C.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Theo đơn khởi kiện ngày 25 tháng 3 năm 2020 và tại phiên tòa đại diện theo ủy quyền của Ngân hàng C ông Phạm Công K trình bày: Vào ngày 06 tháng 8 năm 2010, ông Huỳnh Văn D và bà Lê Thị H có vay vốn tại Phòng giao dịch Ngân hàng C huyện P với số tiền 4.000.000 đồng, nguồn vốn cho vay nước sạch và vệ sinh môi trường, lãi suất thỏa thuận 0,9%/tháng, lãi quá hạn 1,17%/tháng, thời hạn trả cuối cùng là ngày 06 tháng 8 năm 2015. Ngày 24 tháng 4 năm 2013, ông Huỳnh Văn D và bà Lê Thị H tiếp tục vay vốn tại Phòng giao dịch Ngân hàng C huyện P với số tiền 25.000.000 đồng, nguồn vốn cho vay hộ nghèo, lãi suất thỏa thuận 0,65%/tháng, lãi quá hạn 0,845%/tháng, thời hạn trả cuối cùng là ngày 14 tháng 4 năm 2018. Đến thời hạn trả nợ ông Huỳnh Văn D và bà Lê Thị H vẫn không trả nợ gốc và lãi theo thỏa thuận với Ngân hàng. Phòng giao dịch Ngân hàng C huyện Phú Tân yêu cầu tòa án giải quyết buộc ông Huỳnh Văn D và bà Lê Thị H trả số tiền gốc 29.000.000 đồng, lãi tính đến ngày 20 tháng 8 năm 2020 với số tiền 15.238.676 đồng và lãi phát sinh theo hợp đồng đã ký kết cho đến khi ông D và bà H trả hết nợ.
- Bị đơn ông Huỳnh Văn D và bà Lê Thị H đã được Tòa án tống đạt hợp lệ Thông báo Thụ lý vụ án và các văn bản tố tụng nhưng ông D, bà H không tham gia hòa giải, xét xử và không cung cấp lời khai cho Tòa án.
- Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Tân đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu của Ngân hàng C. Buộc ông Huỳnh Văn D và bà Lê Thị H trả tiền gốc và lãi cho Ngân hàng C.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Về thủ tục tố tụng: Ngân hàng C khởi kiện yêu cầu ông Huỳnh Văn D và bà Lê Thị H trả tiền vay và lãi suất. Do đó, đây là tranh chấp dân sự về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” nên theo quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau. Tòa án nhân dân huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau thụ lý giải quyết theo thủ tục sơ thẩm là đúng thủ tục tố tụng.
Về sự vắng mặt của đương sự: Ông Huỳnh Văn D và bà Lê Thị H là bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan. Theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án xét xử vắng mặt ông Huỳnh Văn D và bà Lê Thị H.
Đối với yêu cầu ông Huỳnh Văn D và bà Lê Thị H trả tiền nợ gốc 29.000.000đ và lãi: Căn cứ giấy đề nghị vay vốn kiêm phương án sử dụng vốn
-2-vay, sổ vay vốn và sổ lưu tờ rời theo dõi cho vay - thu nợ - dư nợ thể hiện ông Huỳnh Văn D có vay của Ngân hàng C hai lần số tiền gốc là 29.000.000 đồng, bà Lê Thị H là người thừa kế. Tòa án đã tống đạt Thông báo thu lý vụ án cho ông Huỳnh Văn D và bà Lê Thị H nhưng ông D, bà H không có ý kiến đối với yêu cầu của Ngân hàng. Do ông Huỳnh Văn D và bà Lê Thị H đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ theo hợp đồng đã ký kết. Tại khoản 1 Điều 474 của Bộ luật dân sự năm 2005 quy định về nghĩa vụ trả nợ của bên vay: “bên vay tài sản là tiền, thì trả đủ tiền khi đến hạn …”. Áp dụng điều luật đã viện dẫn thì ông Huỳnh Văn D và bà Lê Thị H phải có nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng C. Do đó, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng C, buộc ông Huỳnh Văn D và bà Lê Thị H có nghĩa vụ liên đới trả cho Ngân hàng C số tiền gốc và lãi suất tính đến ngày 20 tháng 8 năm 2020 với số tiền tổng cộng là 44.238.676 đồng; trong đó tiền gốc 29.000.000 đồng, tiền lãi 15.238.676 đồng.
Đối với yêu cầu ông Huỳnh Văn D và bà Lê Thị H trả lãi phát sinh sau ngày 20 tháng 8 năm 2020 đến khi trả hết nợ: Yêu cầu này của Ngân hàng là phù hợp với quy định của pháp luật và hợp đồng cho vay giữa các bên đã ký kết. Căn cứ vào án lệ số 08/2016/AL được Hội đồng thẩm phán TANDTC thông qua ngày 17 tháng 10 năm 2016 và được công bố theo quyết định số 698/QĐ-CA ngày 17 tháng 10 năm 2016 của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao thì ông D, bà H có trách nhiệm trả lãi phát sinh theo hợp đồng giữa các bên đã ký kết kể từ ngày 21 tháng 8 năm 2020 cho đến khi trả hết nợ gốc.
Từ phân tích nêu trên nên đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Tân là có cơ sở nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về án phí: Ngân hàng C không phải nộp án phí; Do ông D, bà H phải có nghĩa vụ trả tiền cho Ngân hàng C nên ông D, bà H phải liên đới chịu án phí dân sự có giá ngạch là 44.238676 đồng x 5% = 2.211.900 đồng.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Áp dụng khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147; Điều 227; Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
Áp dụng các Điều 471, Điều 474, Điều 476 và Điều 478 của Bộ luật dân sự năm 2005 và khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
1. Chấp nhận yêu cầu của Ngân hàng C. Buộc ông Huỳnh Văn D và bà Lê Thị H có nghĩa vụ liên đới trả cho Ngân hàng C số tiền gốc và lãi suất tính đến ngày 20 tháng 8 năm 2020 với số tiền tổng cộng là 44.238.676 đồng (bốn mươi bốn triệu hai trăm ba mươi tám ngàn sáu trăm bảy mươi sáu đồng); trong đó tiền gốc 29.000.000 đồng, tiền lãi 15.238.676 đồng.
-3-
Kể từ ngày 21 tháng 8 năm 2020 khách hàng vay còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi và tiền lãi quá hạn của số nợ gốc chưa thanh toán theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này. Trường hợp trong hợp đồng cho vay các bên có thỏa thuận về lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng vay theo quyết định của Tòa án cũng được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho vay.
2. Về án phí:
Buộc ông Huỳnh Văn D và bà Lê Thị H liên đới chịu án phí dân sự có giá ngạch với số tiền 2.211.900 đồng (hai triệu hai trăm mười một ngàn chín trăm đồng).
Án xử sơ thẩm, Ngân hàng C có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn mười lăm ngày kể từ ngày tuyên án. Ông Huỳnh Văn D và bà Lê Thị H có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn mười lăm ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Cà Mau; - VKSND huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau; - Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ, văn thư | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Việt Triều -4- |