- Tranh chấp gì? án hình sự — "Phạm Văn Đ - Trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Xử phạt: Phạm Văn Đ 12 (mười hai) tháng tù, về tội “Trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 135 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị; Điều 173 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÓC SƠN-TP.HÀ NỘI ––––––––––––––– | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 85/2019/HS-ST Ngày 09/8/2019 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÓC SƠN-TP.HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Hằng
Các Hội thẩm nhân dân
: Ông Vũ Anh Chi
Ông Nguyễn Đăng Hải
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thúy Hồng-Thư ký Tòa án nhân dân huyện Sóc Sơn
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sóc Sơn tham gia phiên tòa:
Ông Vương Xuân Hoan - Kiểm sát viên.
Ngày 09 tháng 8 năm 2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 88/2019/TLST-HS ngày 09 tháng 7 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 99/2019/QĐXXST-HS ngày 26 tháng 7 năm 2019 đối với bị cáo:
Họ và tên: Phạm Văn Đ, sinh năm 1994 tại Hà Nội. Nơi ĐKHKTT: Thôn PM, xã PL, huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội; chỗ ở hiện nay: Số nhà X, Tổ Y, thị trấn SS, huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội ; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá : Lớp 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Văn L và bà Phạm Thị X; tiền án: không; tiền sự: không; nhân thân: không. Bị cáo tại ngoại. Có mặt tại phiên tòa.
*Người bị hại:
-Anh Lê Nho S, sinh năm 1995, có mặt.
Nơi cư trú: DH, TH, Sóc Sơn, Hà Nội.
- Anh Đào Tuấn A, sinh năm 1993, có mặt
Nơi cư trú: BA, TG, Sóc Sơn, Hà Nội.
- Chị Trịnh Thị C, sinh năm 1981, có mặt
Nơi cư trú: Xóm Z, ĐL, TH, Sóc Sơn, Hà Nội.
*Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
-Anh Nguyễn Quang H, sinh năm 1985, vắng mặt
Nơi cư trú: Tổ F, thị trấn SS, huyện Sóc Sơn, Hà Nội.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 14h ngày 07/2/2019, Trần Thanh H1 rủ Phạm Văn Đ lên Đền Gióng uống nước. Đ đi taxi lên gặp H1 và Đào Tuấn A đang ngồi uống nước ở gần Đền Thượng. Lúc này, Tuấn A để 01 xe máy nhãn hiệu SH BKS 29S6-262.58 của mình gần đó. Ngồi nói chuyện được một lúc thì Tuấn A đi vệ sinh, chìa khóa xe máy, điện thoại Tuấn A để dưới chiếu ngồi. Thấy vậy Đ nảy sinh ý định chiếm đoạt chiếc xe máy của anh Tuấn A. Đ giả vờ hỏi H1 mượn xe để đi đón bạn, H1 đưa chìa khóa xe máy nhãn hiệu Honda Wave của mình cho Đ nhưng Đ không cầm. Lợi dụng lúc mọi người đang mải nói chuyện, Đ lén lút lấy chìa khóa xe máy của anh Tuấn A mở máy điều khiển xe đi xuống thôn AC, xã MĐ, huyện Sóc Sơn, Hà Nội để cầm cố, lấy tiền tiêu xài. Sau khi đi vệ sinh về, anh Tuấn A không thấy xe máy và chìa khóa nên hỏi H1 thì biết Đ lấy đi. Anh Tuấn A và H1 liên tục gọi điện nhưng Đ không nghe máy.
Trên đường điều khiển xe đến thôn AC thì Đ gặp anh Trần Đức V là bạn của Đ. Do ngày 29/01/2019, Đ hỏi mượn xe máy của anh V, hứa trả nhiều lần nhưng không trả nên anh V đã giữ Đ đưa đến Cơ quan Công an huyện Sóc Sơn trình báo. Tại cơ quan Công an, Đ đã thừa nhận hành vi trộm cắp chiếc xe máy SH của anh Đào Tuấn A.
Tại kết luận định giá tài sản số 43/KL-HĐ ngày 22/02/2019 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự kết luận: 01 chiếc xe máy nhãn hiệu SH BKS 29S6-262.58 còn 50% giá trị so với mới có giá: 32.995.000đ.
Đối với vụ việc Đ mượn xe máy của anh Trần Đức V, quá trình điều tra xác định: Khoảng 23h ngày 29/01/2019, Phạm Văn Đ đến quán nhà anh Trần Đức V để ăn đêm. Do là bạn học cấp 3 với anh V nên Đ đã hỏi mượn anh V chiếc xe máy BKS 29Z8-8351 với mục đích ra Khu công nghiệp Nội Bài đón bạn vào ăn cùng. V đồng ý và đưa chìa khóa xe máy cho Đ. Sau khi mượn xe đi được khoảng 20 phút thì Đ gọi điện cho V hỏi mượn xe vài ngày để đi lại. Do là bạn bè cùng nhau nên V đồng ý. Khoảng 2 đến 3 ngày sau, V yêu cầu Đ trả xe thì Đ nói do cần tiền nên Đ xin cầm cố xe vài ngày sau sẽ trả, V đồng ý và yêu cầu Đ 3 ngày sau phải trả xe. Sau đó, V mang xe đi cầm cố được 4.000.000đ. Ngày 10/2/2019, Đ đã lấy lại xe trả cho anh V. Sau khi nhận lại tài sản, anh V không có yêu cầu đề nghị gì. Xét thấy việc Đ mượn xe của anh V mang đi cầm cố lấy tiền tiêu xài đã được sự đồng ý của anh V nên đây là quan hệ pháp luật dân sự. Do vậy, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Sóc Sơn không đề cập xử lý hành vi này của Đ trong vụ án.
Quá trình điều tra, Đ còn khai nhận đã thực hiện 02 vụ trộm cắp. Cụ thể như sau:
Vụ thứ nhất: Ngày 24/10/2018, chị Trịnh Thị C có mở 01 tài khoản thẻ VISA tại Ngân hàng TMCP Tiên Phong. Khoảng 14h ngày 25/10/2018, Đ hỏi mượn xe máy của chị Trịnh Thị C là nhân viên khoa truyền nhiễm Bệnh viện đa khoa Sóc Sơn làm việc cùng với Đ để về nhà lấy giấy tờ. Do Đ là đồng nghiệp nên chị C đồng ý và đưa chìa khóa tủ cá nhân cho Đ để lấy chìa khóa xe máy chị C để trong tủ cá nhân của chị. Khi Đ mở tủ thấy 01 thẻ VISA của chị C nên Đ đã nảy sinh ý định trộm cắp tiền trong thẻ. Sau khi lấy được thẻ, Đ gọi điện cho bạn là Nguyễn Thanh B đến Bệnh viện gặp Đ. Đ đưa cho B chiếc thẻ và bảo B mang đến cửa hàng điện thoại ĐL Mobile ở, thị trấn SS, huyện Sóc Sơn, Hà Nội rút 7.000.000đ. B mang thẻ đến cửa hàng nhưng do chủ quán không có nhà nên không lấy được tiền. Đ bảo B cứ quẹt thẻ rồi tối lấy tiền sau. Đến khoảng 17h cùng ngày, B mang thẻ và hóa đơn đã quẹt tại cửa hàng ĐL về đưa cho Đ. Sau đó, Đ mang thẻ và chìa khóa xe máy để lại tủ cá nhân của chị C và trả chìa khóa tủ cho chị C.
Đến khoảng 18h cùng ngày, Đ và B hẹn gặp nhau ở quán bia HH thuộc Khu đô thị huyện Sóc Sơn. Tại đây, Đ bảo B ra cửa hàng ĐL lấy tiền và B đã nhận 6.860.000đ tại cửa hàng. Sau khi nhận tiền, B mang về đưa toàn bộ số tiền trên cho Đ. Đ cầm tiền dùng trả nợ cá nhân, không đưa cho B đồng nào.
Ngày 27/11/2018, chị C nhận được thông báo của Ngân hàng Tiên Phong yêu cầu thanh toán tiền đã rút trong thẻ. Chị C tìm hiểu phát hiện chiếc thẻ của chị đã được sử dụng để thanh toán với số tiền 6.860.000đ tại cửa hàng ĐL Mobile. Sau đó chị C đã có đơn trình báo cơ quan Công an.
Vụ thứ hai: Khoảng 09h ngày 17/01/2019, Phạm Văn Đ đến cửa hàng điện thoại BT của anh Lê Nho S ở DH, TH, Sóc Sơn, Hà Nội hỏi mua điện thoại Iphone X. Anh S đã lấy 02 chiếc điện thoại Iphone bản 64GB đưa cho Đ xem. Do có mục đích trộm cắp điện thoại từ trước nên Đ giả vờ kiểm tra điện thoại bằng tay trái, tay phải nghe điện thoại của mình. Lợi dụng việc anh S không để ý, Đ đã cầm 01 chiếc điện thoại Iphone X màu đen đi ra ngoài và đón xe taxi đến cửa hàng điện thoại H1 Store của anh Nguyễn Quang H ở Đường J, PhL, Sóc Sơn, Hà Nội. Đ đã bán chiếc điện thoại vừa trộm cắp được cho anh H với giá 14.000.000đ. Sau khi bị mất điện thoại, anh Sự đã có đơn trình báo cơ quan Công an giải quyết.
Tại bản kết luận định giá tài sản số 59 ngày 22/02/2019 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Sóc Sơn kết luận: 01 chiếc điện thoại Iphone X màu đen bản 64GB còn khoảng 95% so với mới có trị giá: 15.485.000đ.
Đối với anh Nguyễn Thanh B, quá trình điều tra xác định: Khi Đ đưa thẻ Visa cho anh B, Đ không nói rõ nguồn gốc của chiếc thẻ nên anh B không biết đó là tài sản do Đ trộm cắp. Đồng thời toàn bộ số tiền rút được từ thẻ, Đ sử dụng hết không chia cho anh B đồng nào. Do vậy, cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Sóc Sơn không đề cập xử lý đối với anh B trong vụ án này.
Tại phiên tòa bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung vụ án đã tóm tắt trên, bị cáo nhận thấy hành vi của mình là vi phạm pháp luật và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng mức hình phạt nhẹ nhất.
Người bị hại là anh Đào Tuấn A trình bày tại phiên tòa: Khoảng 12h30 ngày 07/02/2019 anh đi xe máy nhãn hiệu SH BKS 29S6-262.58 đèo bạn là Trần Thanh H1 đến Đền Gióng chơi. Lúc sau có Ng, Tr và Đ đến, tất cả ngồi uống bia. Khoảng 14h30 cùng ngày, anh đi vệ sinh, chìa khóa xe máy và điện thoại anh để dưới chiếu ngồi. Khoảng 10 phút sau anh quay lại không thấy xe máy và Đ đâu, anh gọi điện nhưng Đ không nghe máy. Ngày 28/02/2019 anh đã được cơ quan điều tra trao trả chiếc xe máy trên. Tại phiên tòa hôm nay anh không có yêu cầu gì về phần bồi thường dân sự và đề nghị xem xét giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo.
Chị Trịnh Thị C trình bày tại phiên tòa: Ngày 24/10/2018 chị có mở 01 thẻ tín dụng tại Ngân hàng TMCP Tiên Phong. Sau khi mở thẻ thì Ngân hàng có chuyển vào tài khoản của chị số tiền 3.000.000đ. Khoảng 16h ngày 26/11/2018 chị nhận được tin nhắn của Ngân hàng thông báo chị đã mua hàng ở cửa hàng ĐL Mobile với số tiền 6.860.000đ. Do từ khi kích hoạt thẻ chị chưa sử dụng để mua bán thanh toán bất cứ khoản gì nên chị đã có đơn trình báo cơ quan Công an. Quá trình điều tra chị mới biết Đ là người làm cùng khoa truyền nhiễm với chị đã lấy trộm chiếc thẻ trên của chị để sử dụng rút tiền. Ngày 25/02/2019 gia đình Đ đã nộp số tiền 7.807.753đ (gồm số tiền Đ đã rút và tiền lãi phát sinh) vào tài khoản thẻ của chị mở tại Ngân hàng TMCP Tiên Phong. Tại phiên tòa chị không có yêu cầu gì về phần bồi thương dân sự và đề nghị xem xét miễn giảm trách nhiệm hình sự cho Đ.
Anh Lê Nho S trình bày tại phiên tòa: Khoảng 9h30 ngày 17/01/2019, Đ đến cửa hàng điện thoại BT của anh để hỏi mua điện thoại Iphone X. Anh có đưa cho Đ xem 02 điện thoại Iphone X bản 64GB gồm có màu đen và màu trắng, máy đã qua sử dụng . Lợi dụng lúc khách hàng đến đông, anh không để ý nên Đ đã lấy trộm 01 điện thoại Iphone X bản 64GB màu đen. Sau khi phát hiện bị mất điện thoại anh đã gọi điện thoại cho Đ nhưng không được. Ngày 28/02/2019 anh đã được cơ quan điều tra trao trả chiếc điện thoại mà Đ đã chiếm đoạt. Tại phiên tòa anh không có yêu cầu gì về phần bồi thường dân sự và đề nghị xem xét miễn giảm trách nhiệm hình sự cho Đ.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan- Anh Nguyễn Quang H trình bày tại BL 83-74: Khoảng 10h ngày 17/01/2019 Đ đến cửa hàng điện thoại HH1 Store của anh để bán 01 điện thoại Iphone X màu đen. Anh đồng ý mua với giá 14.000.000đ. Đến tối cùng ngày thì anh được Cơ quan điều tra thông báo chiếc điện thoại anh mua của Đ là tài sản do Đ trộm cắp mà có nên anh đã trao trả cho Cơ quan điều tra để trả lại cho người bị hại.
Đối với số tiền 14.000.000đ anh bỏ ra mua điện thoại, gia đình Đ đã bồi thường đầy đủ cho anh nên anh không có yêu cầu gì về phần bồi thường dân sự và có đơn đề nghị xem xét miễn giảm trách nhiệm hình sự cho Đ.
Bản cáo trạng số 84/CT-VKS ngày 02/7/2019, Viện kiểm sát nhân dân huyện Sóc Sơn truy tố bị cáo, về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự .
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Tại phiên tòa bị cáo đã thừa nhận hành vi phạm tội của mình, lời nhận tội của bị cáo hoàn toàn phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, lời khai của người bị hại. Do đó, Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo, về tội “Trộm cắp tài sản” và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 2 Điều 173; điểm b,s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 54 Bộ luật hình sự .
- Xử phạt: Phạm Văn Đ mức án từ 12 tháng tù đến 15 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo thi hành án.
- Về trách nhiệm bồi thường dân sự: Không đặt ra giải quyết
- Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng.
- Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Sóc Sơn, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Sóc Sơn, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo, người bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
. Về hành vi phạm tội của bị cáo:
Ngày 25/10/2018 tại Bệnh viện đa khoa Sóc Sơn thuộc địa phận thôn MT, xã TH, huyện Sóc Sơn, Hà Nội, Phạm Văn Đ có hành vi lén lút lấy trộm 01 thẻ tín dụng của chị Trịnh Thị C để chiếm đoạt số tiền 6.860.000đ trong thẻ. Ngày 17/01/2019, tại cửa hàng điện thoại BT ở DH, TH, Sóc Sơn, Hà Nội, Phạm Văn Đ có hành vi lén lút chiếm đoạt của anh Lê Nho S 01 chiếc điện thoại Iphone X bản 64GB có trị giá 15.485.000đ. Tiếp đến ngày 07/02/2019, tại thôn VL, PL, Sóc Sơn, Hà Nội, Phạm Văn Đ lại có hành vi lén lút chiếm đoạt của anh Đào Tuấn A 01 chiếc xe máy SH BKS 29S6-262.58 có trị giá 32.995.000đ. Tổng trị giá tài sản bị cáo chiếm đoạt của các bị hại là: 55.340.000đ. Hành vi của bị cáo đã cấu thành tội “ Trộm cắp tài sản” với tình tiết định khung “Chiếm đoạt tài sản có trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng” được quy định tại điểm c khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự.
Viện kiểm sát nhân dân huyện Sóc Sơn truy tố bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự là có căn cứ.
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác, gây mất trật tự trị an xã hội ở địa phương. Do đó, việc đưa bị cáo ra truy tố, xét xử trước pháp luật là cần thiết nhằm răn đe, giáo dục bị cáo đồng thời góp phần đấu tranh phòng chống tội phạm. Tuy nhiên khi quyết định hình phạt cũng cần xem xét đến nhân thân của bị cáo, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ mà Bộ luật hình sự đã quy định.
Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo không có tiền bồi thường nhưng đã tác động nhờ gia đình bố, mẹ bị cáo bồi thường thay cho bị cáo; đối với chiếc xe SH bị cáo phạm tội nhưng chưa gây thiệt hại, tài sản đã được thu hồi ngay trả lại cho bị hại; người bị hại đều có đơn xin miễn giảm trách nhiệm hình sự cho bị cáo. Do đó, cần cho bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, h, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo có 01 tình tiết tăng nặng là phạm tội 02 lần trở lên được quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.
Mặc dù nhân thân của bị cáo chưa có tiền án, tiền sự, phạm tội lần đầu nhưng căn cứ vào tính chất vụ án nhận thấy để có tiền ăn tiêu bị cáo đã liên tiếp lợi dụng sự sơ hở của những người bạn bị cáo quen biết để chiếm đoạt tài sản thể hiện ý thức coi thường pháp luật của bị cáo nên đối với bị cáo cần phải áp dụng mức hình phạt tù có thời hạn, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tại trại giam trong một thời hạn nhất định. Tuy nhiên do bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự nên có thể áp dụng Điều 54 Bộ luật hình sự cho bị cáo được hưởng mức hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt cũng có đủ tác dụng giáo dục, cải tạo bị cáo trở thành người công dân có ích cho xã hội.
. Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015 quy định “ Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ năm triệu đồng đến năm mươi triệu đồng”. Tuy nhiên xét hiện bị cáo không có nghề nghiệp ổn định nên Hội đồng xét xử miễn không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
. Về trách nhiệm bồi thường dân sự: Quá trình điều tra người bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã nhận lại được toàn bộ tài sản bị chiếm đoạt, không có yêu cầu gì đối với bị cáo về phần trách nhiệm bồi thường dân sự nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết.
. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm c khoản 2 Điều 173; điểm b, h, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 54 Bộ luật hình sự; Điều 135 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQHƯNG4 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Xử phạt: Phạm Văn Đ 12 (mười hai) tháng tù, về tội “Trộm cắp tài sản”.
Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo thi hành án phạt tù.
Bị cáo phải nộp 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm cho Nhà nước.
Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm bị cáo, người bị hại được quyền kháng cáo. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo về những vấn đề liên quan trực tiếp đến quyền lợi của mình trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.
| Nơi nhận: -VKSND huyện Sóc Sơn. -Chi cục THADS huyện Sóc Sơn. -Công an huyện Sóc Sơn. -Bị cáo . -Đương sự. -Lưu HS, VP | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Thu Hằng |