vanban.org

Bản án 85/2019/HS-PT — Hình sự

TAND TP. Hải Phòng Tuyên án 24/12/2019 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 24/12/2019 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Trong trường hợp người có nghĩa vụ trả tiền chậm thanh T tiền bồi thường thì phải trả lãi đối với số tiền chậm trả theo lãi suất quy định tại Điều 357, khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự tính trên số tiền chậm thanh T tương ứng với thời gian chậm thanh T tại thời điểm thi hành.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án. Trường hợp bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật thi hành án dân sự được sửa đổi, bổ sung năm 2014 thì người được thi hành án, người phải thi hành án có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Ngô Thị Huệ phạm tội Cố ý gây thương tích - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa đổ…"
  • Tòa quyết gì? Trong trường hợp người có nghĩa vụ trả tiền chậm thanh T tiền bồi thường thì phải trả lãi đối với số tiền chậm trả theo lãi suất quy định tại Điều 357, khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự tính trên số tiền chậm thanh T tương ứng với thời gian chậm thanh T tại thời điểm thi hành.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 85/2019/HS-PT
Ngày 24-12-2019

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Xuân Tuyến

Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Văn Dương

Bà Phạm Thị Thanh Bình.

- Thư ký phiên toà: Bà Vũ Thị Hằng– Thư ký Toà án nhân dân thành phố Hải Phòng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hoa Đào - Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 12 năm 2019, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Hải Phòng xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 66/2019/TLPT-HS ngày 30 tháng 10 năm 2019 do có kháng cáo của bị cáo Ngô Thị H đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 82/2019/HS-ST ngày 25 tháng 9 năm 2019 của Tòa án nhân dân huyện TN, thành phố Hải Phòng.

Bị cáo có kháng cáo:

Ngô Thị H, sinh ngày 05 tháng 5 năm 1965 tại Hải Phòng. Nơi cư trú: Thôn 5, xã HT, huyện TN, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: Lớp 07/10; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Không; con ông Ngô Văn U và bà Bùi Thị Đ; có chồng là Nguyễn Văn Thoại và 03 con; tiền án, tiền sự, nhân thân: Không; bị cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 09/7/2019; vắng mặt.

Bị hại không kháng cáo: Anh Bùi Hữu M, sinh năm 1986; địa chỉ: Thôn 5, xã HT, huyện TN, thành phố Hải Phòng; có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nhà ông Bùi Thanh T, sinh năm 1964 và nhà bị cáo Ngô Thị H ở liền kề nhau tại Thôn 5, xã HT, huyện TN, thành phố Hải Phòng. Bị cáo H cho rằng gia đình ông T đã chiếm đất của bị cáo nên trong Nều năm bị cáo và gia đình ông T đã có việc cãi chửi nhau. Khoảng 16 giờ ngày 07/4/2019, thấy gia đình ông T cúng tạ đất, bị cáo H đứng cạnh bờ ao nhà mình chửi sang nhà ông T dẫn đến hai bên cãi chửi nhau. Ông T ra vườn lấy 01 gậy tre khô dài khoảng 2m đến 3m đập vào bờ tường ngăn giữa hai nhà làm gậy tre gẫy làm đôi. Đến khoảng 17 giờ thì anh Bùi Hữu M là em trai của ông T đến nhà ông T chơi. Thấy bị cáo H vẫn chửi gia đình ông T, anh M nhặt đoạn tre gẫy còn lại (trước đó ông T dùng đập vào tường ngăn giữa hai nhà) và đi bộ đến khu vực ven đường sát cửa nhà H. Tại đây, anh M cầm gậy tre và nói “tao đánh mày bây giờ”. Chị Mạc Thị Quỳnh N (là con dâu bị cáo H) và người dân xung quanh đã chạy ra can ngăn, giữ tay, giật gậy tre của anh M. Lúc này, bị cáo H đến bàn uống nước trong nhà cầm 01 con dao nhọn bằng kim loại dài 17cm, bản rộng 02cm được bọc trong 2 túi nilon màu trắng T1 đến đâm một nhát vào mạn sườn trái của anh M làm anh M bị thương. Anh M được mọi người đưa đi cấp cứu, điều trị tại bệnh viện Việt Tiệp Hải Phòng từ ngày 07/4/2019 đến ngày 16/4/2019 thì ra viện.

Tại bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 158/2019/TgT ngày 03/5/2019 của Trung tâm pháp y thành phố Hải Phòng kết luận: Anh M bị vết thương 02cm vùng mạn sườn trái ngang mức rốn, hướng từ dưới lên trên, từ ngoài vào trong, sâu 10cm vào vùng hố thận trái. Mở rộng vết thương về hai phía bóc tách qua các lớp cân cơ thành bụng trước bên trái, kiểm tra sơ bộ thấy đứt rách các lớp cơ vùng này, đáy vết thương không vào đến thận trái, không xuyên qua khoang phúc mạc vào ổ bụng. Dấu hiệu chính qua giám định: Nạn nhân bị vết thương rách da cơ vùng thành bên bụng trái, không tổn thương vào trong ổ phúc mạc; đã được điều trị, dần ổn định. Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của nạn nhân do vết thương thành bụng bên trái gây nên là 09%. Thương tích trên có đặc điểm do vật sắc nhọn tác động trực tiếp gây nên theo hướng chính từ trái sang phải.

Cơ quan điều tra đã khám nghiệm hiện trường, thu giữ: 01 dao nhọn bằng kim loại dài 17cm, cán màu đen dài 06cm, thân dài 11cm gồm 01 lưỡi sắc, bản rộng thân dao là 02cm, bề mặt lưỡi dao bám dính vết máu đỏ đã khô được bọc trong 02 lớp túi nilon, 01 đoạn gỗ tre khô dài 92cm có đường kính 05cm. Các vật này được chU Chi cục Thi hành án dân sự huyện TN quản lý.

Bản kết luận giám định số 36/2019/GĐSV ngày 25/4/2019 của Phòng kỹ thuận hình sự Công an thành phố Hải Phòng kết luận: Dấu vết trên con dao thu tại hiện trường gửi giám định là máu người, là máu của Bùi Hữu M.

Ngày 09 tháng 5 năm 2019, anh Bùi Hữu M có đơn yêu cầu khởi tố vụ án hình sự. Anh M khai trước đây đã có vài lần cãi chửi nhau với bị cáo H. Nguyên nhân là do bị cáo H hay chửi gia đình ông T (là anh trai anh) do liên quan đến tranh chấp đất, cụ thể như nào thì anh không biết. Ngày 07/4/2019, lại thấy bị cáo H chửi ông T nên anh cầm gậy tre sang để dọa và muốn nói chuyện phải trái với bị cáo H. Anh không có ý định đánh vì bị cáo H là phụ nữ. Nên khi mọi người can ngăn thì anh dừng lại ngay. Sau khi bị bị cáo đâm thì anh đã được đưa đi chữa thương tích. Anh đề nghị Tòa án xét xử phạt nghiêm minh đối với bị cáo H vì đã gây thương tích cho anh. Về dân sự, anh đề nghị Tòa án buộc bị cáo H bồi thường cho anh số tiền chữa thương tích là 12.000.000 đồng, gồm: Tiền viện phí, điều trị và mua thuốc là 7.953.031 đồng, 8 ngày nằm viện làm mất thu nhập là công nhân 160.000 đồng/ngày, người chăm sóc anh 8 ngày ở viện là ông T cũng mất thu nhập theo ngày công là 250.000 đồng/ngày, 766.969 đồng là tiền ăn uống đi lại của anh và của người chăm sóc. Anh M không yêu cầu bồi thường gì thêm.

Tại Bản án sơ thẩm số 82/2019/HS-ST ngày 25/9/2019, Tòa án nhân dân huyện TN, thành phố Hải Phòng đã căn cứ điểm a khoản 1 Điều 134, điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 47 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Ngô Thị H 12 tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt đi chấp hành án.

Ngoài ra, Bản án sơ thẩm còn tuyên nghĩa vụ bồi thường thiệt hại về dân sự, nghĩa vụ nộp án phí, xử lý vật chứng và quyền kháng cáo Bản án.

Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 22/11/2019, bị cáo Ngô Thị H kháng cáo toàn bộ bản án. Kháng cáo của bị cáo trong thời hạn luật định nên được xem xét, giải Q.

* Quan điểm giải Q vụ án của Kiểm sát viên thể hiện như sau:

Bị cáo Ngô Thị H đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ ba nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Việc bị cáo H vắng mặt không có lý do không ảnh hưởng đến việc giải Q vụ án. Vì vậy, đề nghị Hội đồng xét xử xét xử vắng mặt bị cáo H.

Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét, đánh giá đầy đủ hành vi phạm tội, tính chất vụ án, nhân thân, các giảm nhẹ trách Nệm hình sự và xử phạt bị cáo Ngô Thị H 12 tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích” là thỏa đáng, không nặng. Tại giai đoạn xét xử phúc thẩm, bị cáo H không có tình tiết giảm nhẹ trách Nệm hình sự mới. Vì vậy, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự, không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Ngô Thị H, giữ nguyên án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử xét kháng cáo của bị cáo Ngô Thị H như sau:

- Về tố tụng:

Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Ngô Thị H vắng mặt không có lý do. Hội đồng xét xử nhận thấy: Tòa án đã T1 hành mở phiên tòa xét xử vụ án 03 lần và đều đã tống đạt hợp lệ cho bị cáo Ngô Thị H. Tuy Nên, toàn bộ các lần mở phiên tòa, bị cáo đều vắng mặt tại phiên tòa không có lý do. Việc vắng mặt của bị cáo không gây trở ngại cho việc xét xử. Do đó, căn cứ vào điểm d khoản 2 Điều 290 Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử T1 hành xét xử vụ án theo thủ tục chung.

- Về nội dung:

Về tội danh: Mặc dù tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo Ngô Thị H vắng mặt, nhưng tại cơ quan điều tra (BL 60-72) và tại phiên tòa sơ thẩm (BL 196-199), bị cáo Ngô Thị H đã khai như sau:

“...Khoảng 15 giờ ngày 07/4/2019, tôi đang ở nhà tại thôn 5, xã HT, TN, Hải Phòng... Do bức xúc việc tranh chấp đất giữa hai nhà từ lâu nên tôi có to T1g, chửi nhau với ông T....M cầm đoạn gậy tre đứng trước cửa nhà tôi to T1g định xông vào nhà tôi thì bị N cản lại, can ngăn, N giằng cầm gậy gỗ của M, thấy vậy tôi cho rằng M xô xát vụt gậy vào tay N nên tôi đến gần bàn uống nước lấy 01 con dao gọt hoa quả dài khoảng 20 cm đầu nhọn, bên ngoài bọc túi nilông. Tôi cầm dao bằng tay phải T1 đến chỗ M và N đang giằng co nhau, lúc này cộng thêm việc bức xúc vì M cầm gậy gỗ sang nhà tôi nên tôi cầm dao trên đâm 01 nhát trúng vào sườn trái của M (M lúc này đang đứng đối diện tôi). M bị thương chạy lùi lại ôm bụng, tôi cầm dao nói sang nhà ông T: “Thằng nào xông vào nhà tao thì đừng trách” (BL 60).

Căn cứ vào lời khai tại Cơ quan điều tra của những người làm chứng của anh Mạc Văn T1, anh Đoàn Văn S, chị Mạc Thị Quỳnh N, anh Bùi Văn Q, ông Bùi Thanh T; lời khai của bị hại anh Bùi Hữu M và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, thể hiện: Do có mâu thuẫn giữa gia đình ông Bùi Thanh T với gia đình nhà bị cáo Ngô Thị H. Khoảng 17 giờ ngày 07/4/2019 anh Bùi Hữu M (em trai ông T) cầm 01 gậy tre sang nhà bị cáo H và nói “tao đánh mày bây giờ”. Nhưng mọi người đã can ngăn và giật gậy tre của anh M nên anh M chưa thực hiện hành vi nào khác. Lúc này, bị cáo Ngô Thị H cầm 01 con dao bằng kim loại bên ngoài bọc 02 lớp túi nilon đâm một nhát vào phía mạn sườn bên phải anh M. Theo Kết luận giám định tỷ lệ tổn thương cơ thể của anh M là 9%. Như vậy, Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo về tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 134 Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội, đúng quy định pháp luật.

Về hình phạt: Tòa án cấp sơ thẩm đã đánh giá đúng tính chất, mức độ hành vi và nhân thân của bị cáo, cụ thể: Sau khi phạm tội bị cáo đã thành khẩn khai báo; phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Bị cáo có bố chồng là cụ Nguyễn Văn Xề được Nhà nước tặng thưởng Huân chương kháng chiến hạng Nhì năm 1965 nên được nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách Nệm sự quy định tại điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Tuy Nên, trong vụ án này bị cáo chưa bồi thường thiệt hại cho bị hại, không được bị hại xin giảm nhẹ hình phạt nên Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo với mức án 12 tháng tù là phù hợp, không nặng.

Về trách Nệm bồi thường thiệt hại: Thương tích của anh M là do bị cáo Ngô Thị H gây ra nên bị cáo phải bồi thường thiệt hại về sức khỏe cho anh M. Anh M yêu cầu bị cáo H phải bồi thường 12.000.000 đồng, cụ thể: Tiền viện phí, điều trị và mua thuốc là 7.953.031 đồng, tiền thu nhập bị mất những ngày anh M nằm viện (anh M là công nhân): 160.000 đồng/ngày x 8 ngày = 1.280.000 đồng; tiền thu nhập bị mất của người chăm sóc anh M (ông T làm công nhân lái xe): 250.000 đồng/ngày x 08 ngày = 2.000.000 đồng; chi phí ăn uống, đi lại của anh M và người trông nom anh M: 766.969 đồng. Xét thấy, chi phí khám chữa bệnh, tiền mua thuốc điều trị có hóa đơn, chứng từ; thu nhập bị mất trong thời gian nằm viện của anh M và của người chăm sóc cho anh M phù hợp với thu nhập trung bình tại địa phương; chi phí ăn uống, sinh hoạt, đi lại của anh M trong thời gian nằm viện là hợp lý nên yêu cầu của anh M buộc bị cáo H bồi thường số tiền 12.000.000 đồng là phù hợp.

Tại cấp phúc thẩm, bị cáo không cung cấp tài liệu chứng cứ nào mới, do đó không có căn cứ chấp nhận kháng cáo của bị cáo Ngô Thị H, Hội đồng xét xử chấp nhận đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa: Giữ nguyên án sơ thẩm.

Về án phí: Do kháng cáo của bị cáo không được chấp nhận nên bị cáo phải nộp án phí hình sự phúc thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự: Giữ nguyên án sơ thẩm, không chấp nhận kháng cáo của bị cáo.

- Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 134, điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Ngô Thị H: 12 (mười hai) tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo đi chấp hành án.

- Căn cứ vào Điều 46 Bộ luật Hình sự; Điều 584, Điều 590 của Bộ luật Dân sự: Buộc bị cáo Ngô Thị H có nghĩa vụ bồi thường cho anh Bùi Hữu M số tiền 12.000.000 đồng.

Trong trường hợp người có nghĩa vụ trả tiền chậm thanh T tiền bồi thường thì phải trả lãi đối với số tiền chậm trả theo lãi suất quy định tại Điều 357, khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự tính trên số tiền chậm thanh T tương ứng với thời gian chậm thanh T tại thời điểm thi hành.

- Căn cứ vào Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106, Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu và tiêu hủy: 01 dao bằng kim loại dài 17cm, cán màu đen dài 06cm, thân dài 11cm; 02 túi nilon dính tạp chất màu nâu; 01 đoạn gỗ tre dài 92cm, đường kính 05cm (chi tiết vật chứng theo Biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản ngày 15/8/2019 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện TN).

- Căn cứ Nghị Q 326/ 2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí của Tòa án: Bị cáo Ngô Thị H phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm; 600.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm và 200.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật thi hành án dân sự được sửa đổi, bổ sung năm 2014 thì người được thi hành án, người phải thi hành án có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 của Luật thi hành án dân sự được sửa đổi, bổ sung năm 2014; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật thi hành án dân sự được sửa đổi, bổ sung năm 2014./. Nơi nhận:

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

- VKSND TPHP;

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

- VKSND huyện TN;

- PV06 Công an TP Hải Phòng;

- Cơ quan CSĐT huyện TN;

- Cơ quan THA dân sự huyện TN;

- TAND huyện TN;

- Sở Tư pháp thành phố Hải Phòng;

Nguyễn Xuân Tuyến

- Bị cáo;

- Người tham gia tố tụng;

- Lưu: HS, HCTP.

THÀNH PHẦN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN

CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Xuân Tuyến

Cỡ chữ