vanban.org

Bản án 85/2019/HS-PT — Hình sự

TAND tỉnh Bình Dương Tuyên án 21/06/2019 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 21/06/2019 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận kháng cáo của b cáo Phạm Th nh V về tội “Cướp t i sản”. Không chấp nhận kháng cáo của các b cáo Phạm Th nh V, Phan Văn B về tội “Đánh bạc”. Sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 61/2019/HS-ST ngày 12 tháng 3 năm 2019 của Tòa án nhân dân th xã T về hình phạt đối với b cáo Phạm T…

Xử phạt b cáo Phạm Th nh V 05 (năm) năm tù về tội “Cướp t i sản’’ v 08 (tám) tháng tù về tội “Đánh bạc”. Tổng hợp hình phạt, buộc b cáo phải chấp h nh hình phạt chung của hai tội l 05 (năm) năm 08 (tám) tháng tù. Thời hạn tù được tính kể từ ng y 26/02/2019, được khấu trừ thời hạn tạm giữ từ ng y 12/… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Phạm Thành V - Đánh bạc, Cướp tài sản - phạm tội cướp tài sản (điều 168 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận kháng cáo của b cáo Phạm Th nh V về tội “Cướp t i sản”. Không chấp nhận kháng cáo của các b cáo Phạm Th nh V, Phan Văn B về tội “Đánh bạc”. Sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 61/2019/HS-ST ngày 12 tháng 3 năm 2019 của Tòa án nhân dân th xã T về hình phạt đối với b cáo Phạm T…
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH BÌNH DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 85/2019/HS-PT
Ngày 22-5-2019

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hoàng Huy Toàn.

Các Thẩm phán:

Ông Bùi Ngọc Thạch;

Ông Trương Văn Lộc.

- Thư ký phiên tòa: B Nguyễn Th Ng n – Thư ký Tòa án nhân d n tỉnh Bình Dương.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Th Phương Dung - Kiểm sát viên.

Ngày 22 tháng 5 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân d n tỉnh Bình Dương mở phiên tòa xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 76/2019/TLPT-HS ngày 22 tháng 4 năm 2019 đối với các b cáo Phạm Th nh V v Phan Văn B. Do có kháng cáo của các b cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 61/2019/HS-ST ngày 12 tháng 3 năm 2019 của Tòa án nhân dân th xã T.

Họ và tên các bị cáo có kháng cáo:

1. Phạm Th nh V (tên gọi khác: M); sinh ngày: 21/4/1999 tại tỉnh Bình Dương; nơi thường trú: Số X, khu phố B, phường B, th xã T, tỉnh Bình Dương; nghề nghiệp: Sinh viên; trình độ học vấn: 12/12; giới tính: N3; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc t ch: Việt N3; con ông Nguyễn Th nh Đ (đã chết) v b Phạm Th P (đã chết); tiền án, tiền sự: Không; b bắt tạm giữ từ ngày 12/3/2018 đến ng y 22/3/2018 được áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú, đến ng y 26/02/2019 b bắt tạm giam đến nay; có mặt.

2. Phan Văn B, sinh năm 1985 tại tỉnh Bến Tre; nơi thường trú: Ấp X, xã T, huyện B, tỉnh Bến Tre; nghề nghiệp: L m thuê; trình độ học vấn: 6/12; giới tính: N3; d n tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc t ch: V N3; con ông Phan Văn S, sinh năm 1948 v b Nguyễn Th B1, sinh năm 1948; có vợ là Bùi Th Thúy H, sinh năm 1980 (đã ly hôn) v có 01 người con, sinh năm 2007; tiền án, tiền sự: Không; b áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú đến nay; có mặt.

Người bào chữa cho bị cáo Phan Văn B: Ông Dương Tiến N, sinh năm 1948, Hội viên Hội Luật gia tỉnh Bến Tre; có mặt.

Ngoài ra, trong vụ án còn có 01 b cáo do không có kháng cáo, không b kháng ngh nên Tòa án không triệu tập.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các t i liệu có trong hồ sơ vụ án v diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án Đ tóm tắt như sau:

Khoảng 22 giờ ng y 10/3/2018, Phạm Th nh V, Phan Văn B cùng người tên D, N1 v một số người khác (chưa rõ N2 thân, lai l ch) đánh b i thắng thua bằng tiền tại phòng trọ số X thuộc đ a chỉ số X, khu phố B, phường B, th xã T do Lê Thanh H1 thuê. Hình thức đánh b i l b i c o 03 lá, người có điểm cao nhất sẽ thắng hết v l m cái, số tiền cá cược từ 50.000 đồng đến 300.000 đồng/ván. B sử dụng 12.000.000 đồng, V sử dụng 14.000.000 đồng, H1 sử dụng 100.000 đồng để đánh bạc. Đến khoảng 01 giờ ng y 11/3/2018, H1 thua hết 100.000 đồng, B thắng được số tiền 14.000.000 đồng, V thua hết số tiền 14.000.000 đồng nên về nh kể lại sự việc thua b i cho cha ruột l ông Nguyễn Thành Đ nghe thì b ông Đ chửi mắng. V nghi ngờ B chơi b i gian lận nên lấy 02 dao tự chế (dao mã tấu) đi tìm B để đòi lại tiền. Trước khi đi, V đến phòng trọ của ông Nguyễn Hồ N2 (tên gọi khác: N3) gõ cửa v nói “Chú N3 cứu con” rồi bỏ đi, khi ông N2 ra mở cửa thì V đã điều khiển xe mô tô biển số 61C1-736.X bỏ đi nên N2 điều khiển xe mô tô biển số 63B5-333.Y chạy theo. Lúc này, ông Đ điều khiển xe mô tô (không rõ biển số) chở Phan Quốc T cũng đi tìm V.

Đến khoảng 02 giờ ng y 11/3/2018, trong lúc Trần Văn T1 đang điều khiển xe mô tô chở Phan Văn B lưu thông trên đoạn đường khu vực vườn cao su thuộc tổ X, khu phố B, phường B thì gặp Nguyễn Hồ N2 yêu cầu dừng xe để nói chuyện, ông T1 dừng xe lại. Lúc n y, V điều khiển xe mô tô đến mở cốp xe lấy 02 dao đi về phía B, V kề dao v o cổ B, nói “Trả tiền lại cho tao”, B trả lời: “Không đưa” thì V dùng tay phải đấm 02 - 03 cái v o mặt B, B ôm mặt ngồi xuống đường thì b V dùng ch n đá v tay đấm tiếp v o vùng mặt v ngực l m B ngã xuống đất. V lấy trong túi quần của B số tiền 24.100.000 đồng, một ví da và một điện thoại di động nhưng sau đó V trả lại ví da v điện thoại di động cho B rồi điều khiển xe bỏ đi. Lúc này, ông Nguyễn Th nh Đ điều khiển xe chở Phan Quốc T đi đến, ông Đ nhìn thấy dưới đường có một điện thoại di động nên lấy v cùng với T, N2 về nh . T1 chở B đến bệnh viện để chữa tr .

Ngày 12/3/2018, B đến Công an phường B, th xã T trình báo sự việc v giao nộp số tiền 12.500.000 đồng (số tiền n y V đã trả lại cho B), V giao nộp số tiền 9.600.000 đồng đã chiếm đoạt của B v 02 dao tự chế.

Tổng số tiền các b cáo sử dụng để đánh bạc l 26.100.000 đồng.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 61/2019/HS-ST ngày 12 tháng 3 năm 2019 của Tòa án nhân dân th xã T đã quyết đ nh:

Tuyên bố b cáo Phạm Th nh V phạm tội “Cướp t i sản’’ v tội “Đánh bạc”; b cáo Phan Văn B phạm tội “Đánh bạc”;

Căn cứ điểm d khoản 2 Điều 168; khoản 1 Điều 321; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 55; Điều 58; Điều 46 và Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Xử phạt b cáo Phạm Th nh V 07 (bảy) năm tù về tội “Cướp t i sản’’ v 08 (tám) tháng tù về tội “Đánh bạc”. Tổng hợp hình phạt, buộc b cáo phải chấp h nh hình phạt chung của hai tội l 07 (bảy) năm 08 (tám) tháng tù. Thời hạn tù được tính từ ng y 26/02/2019, được khấu trừ thời hạn tạm giữ từ ng y 12/3/2018 đến ng y 22/3/2018.

Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 46; Điều 47 v Điều 58 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017),

Xử phạt b cáo Phan Văn B 08 (tám) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ng y bắt b cáo để thi hành án.

Ngo i ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn xử phạt b cáo Lê Thanh H1 09 (chín) tháng cải tạo không giam giữ về tội “Đánh bạc”; tuyên về biện pháp tư pháp, án phí v quyền kháng cáo theo quy đ nh của pháp luật.

Ngày 13/3/2019, b cáo Phạm Th nh V có đơn kháng cáo xin được hưởng án treo. Ngày 18/3/2019, b cáo Phan Văn B có đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt v xin hưởng án treo.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân d n tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa phúc thẩm phát biểu ý kiến: Tội danh, điều luật m Tòa án cấp sơ thẩm xét xử đối với các b cáo l có căn cứ, đúng người, đúng tội. B cáo B kháng cáo xin Đ hưởng án treo v xin giảm nhẹ hình phạt. Tại phiên tòa, b cáo V thay đổi kháng cáo xin Đ giảm nhẹ hình phạt. Tại Tòa án cấp phúc thẩm, các b cáo không cung cấp Đ tình tiết giảm nhẹ n o mới, mức hình phạt m Tòa án cấp sơ thẩm áp dụng đối với các b cáo l phù hợp v việc Tòa án cấp sơ thẩm không áp dụng án treo đối với b cáo B l có căn cứ. Do đó, đề ngh không chấp nhận kháng cáo của các b cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Người bào chữa cho b cáo B trình bày: Nội dung kháng cáo của b cáo B l có căn cứ, đề ngh Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận. Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt b cáo B 08 (tám) tháng tù, không cho b cáo hưởng án treo là thiệt thòi cho b cáo, không phù hợp với quy đ nh của pháp luật về án treo. B cáo B có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đã chủ động nộp lại số tiền đánh bạc, gia đình b cáo B có công với cách mạng, b cáo có b nội l Mẹ Việt Nam anh hùng, b cáo có ông ngoại là Liệt sĩ. Sau khi kháng cáo, b cáo đã nộp thêm đơn xin xác nhận hoàn cảnh gia đình khó khăn, mẹ của b cáo đã gi yếu, b cáo là lao động chính trong gia đình. B cáo chưa có tiền án, tiền sự, phạm tội lần đầu, có nhân th n tốt, có nơi cư trú rõ r ng, b cáo có khả năng tự cải tạo, việc cho b cáo hưởng án treo cũng không g y nguy hại cho xã hội. B cáo đủ điều kiện để Đ hưởng án treo, đề ngh Hội đồng xét xử xem xét cho b cáo hưởng án treo để b cáo có điều kiện cải tạo, giúp đỡ gia đình.

Tại phiên tòa phúc thẩm, các b cáo khai nhận to n bộ h nh vi phạm tội, b cáo B giữ nguyên nội dung kháng cáo, b cáo V thay đổi kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

B cáo V nói lời sau cùng: B cáo xin lỗi b hại, thời gian b tạm giam b cáo rất hối hận về h nh vi sai trái của mình, dẫn đến cha mẹ chết, b cáo còn người em nhỏ đang đi học không ai chăm lo. Mong Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho b cáo để về lo cho em của b cáo.

B cáo B nói lời sau cùng: Mong Hội đồng xét xử xem xét cho b cáo cơ hội sửa đổi.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ v o các t i liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận đ nh như sau:

. Đơn kháng cáo của các b cáo được thực hiện trong thời hạn luật đ nh nên đủ điều kiện để Tòa án cấp phúc thẩm giải quyết theo quy đ nh của pháp luật.

. Tại phiên tòa phúc thẩm, lời khai của b cáo thống nhất với nội dung vụ án đã nêu trên, phù hợp với các t i liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, đã đủ cơ sở kết luận: Khoảng 22 giờ ng y 10/3/2018, Phạm Thành V, Phan Văn B, Lê Thanh H1 cùng người tên D, N1 v một số người khác (chưa rõ nhân thân, lai l ch) đã thực hiện h nh vi đánh bạc với hình thức b i c o tại nh trọ thuộc số X, khu phố B, phường B, th xã T. B sử dụng 12.000.000 đồng, V sử dụng 14.000.000 đồng, H1 sử dụng 100.000 đồng để đánh bạc. Đến khoảng 01 giờ ngày 11/3/2018, H1 thua hết 100.000 đồng, B thắng được 14.000.000 đồng, V thua hết 14.000.000 đồng nên nghỉ, V về nh lấy 02 dao tự chế rồi đi tìm B để lấy lại tiền. Đến khoảng 02 giờ ng y 11/3/2018, V gặp B tại đoạn đường khu vực vườn cao su thuộc tổ X, khu phố B, phường B, V cầm 02 dao kề v o cổ của B đe dọa sau đó dùng tay đấm 2, 3 v o mặt B rồi lấy trong túi quần của B số tiền 24.100.000 đồng.

. H nh vi của các b cáo l nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp x m phạm đến trật tự công cộng, nếp sống văn minh của xã hội, ảnh hưởng đến tình hình trật tự tr an tại đ a phương. Về nhận thức, các b cáo nhận thức được hành vi đánh bạc sát phạt lẫn nhau thắng thua bằng tiền l vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện, thể hiện ý thức xem thường pháp luật v bất chấp hậu quả. Ngoài ra, h nh vi cướp t i sản của b cáo V còn x m phạm đến sức khỏe, t i sản của b hại B được pháp luật bảo vệ. Các b cáo có đầy đủ năng lực ch u trách nhiệm hình sự về h nh vi phạm tội của mình theo quy đ nh của pháp luật. Hành vi phạm tội của b cáo thực hiện với lỗi cố ý. Như vậy, Tòa án cấp sơ thẩm xét xử b cáo V về tội “Cướp t i sản” v tội “Đánh bạc” theo quy đ nh tại điểm d khoản 2 Điều 168; khoản 1 Điều 321 v b cáo Phan Văn B về tội “Đánh bạc” theo quy đ nh tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) l có căn cứ, đúng người, đúng tội v đúng pháp luật.

. Xét kháng cáo của b cáo V xin được giảm nhẹ hình phạt, Hội đồng xét xử xét thấy:

Đối với tội “Đánh bạc”: B cáo trực tiếp tham gia đánh bạc v sử dụng số tiền đánh bạc lớn, mức hình phạt 08 (tám) tháng tù m Tòa án cấp sơ thẩm áp dụng đối với b cáo l không nặng, tương xứng với tính chất, mức độ h nh vi phạm tội của b cáo. Do đó, không có cơ sở giảm nhẹ hình phạt đối với b cáo về tội “Đánh bạc”.

Đối với tội “Cướp t i sản”: Căn cứ v o tính chất, mức độ h nh vi phạm tội của b cáo, xét thấy b cáo nhất thời phạm tội, mục đích phạm tội của b cáo chỉ nhằm lấy lại số tiền b cáo đánh bạc b thua, b cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Đồng thời, xem xét điều kiện ho n cảnh của b cáo, sau khi b cáo phạm tội thì cha mẹ của b cáo chết, b cáo có 01 người em còn đi học. Do đó, Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho b cáo, áp dụng hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng theo quy đ nh tại Điều 54 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017)

Do đó, kháng cáo của b cáo V về việc xin giảm nhẹ hình phạt về tội “Cướp t i sản” l có căn cứ chấp nhận.

Xét kháng cáo của b cáo Phan Văn B về việc xin giảm nhẹ hình phạt v xin hưởng án treo: Căn cứ v o tính chất, mức độ h nh vi phạm tội của b cáo, xét thấy: Tại Tòa án cấp phúc thẩm, b cáo cung cấp tình tiết b cáo có ho n cảnh gia đình khó khăn, b cáo l lao động chính trong gia đình. Tuy nhiên, đ y không phải l tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy đ nh của pháp luật nên không có cơ sở áp dụng đối với b cáo. Ngo i ra, b cáo sử dụng số tiền đánh bạc lớn, mức hình phạt m Tòa án cấp sơ thẩm đã áp dụng đối với b cáo l phù hợp, tương xứng với tính chất, mức độ h nh vi phạm tội của b cáo. Do đó, không có cơ sở giảm nhẹ hình phạt đối với b cáo B. Ngoài ra, mặc dù b cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Tuy nhiên, xuất phát từ h nh vi đánh bạc của b cáo đã l m phát sinh h nh vi phạm tội “Cướp t i sản” của b cáo V, đồng thời việc b cáo không chấp h nh hình phạt tù sẽ g y ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an to n xã hội cũng như ảnh hưởng đến công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm tại đ a phương, đặc biệt l tội phạm “Đánh bạc” đang gia tăng trên đ a b n th xã T nói riêng v tỉnh Bình Dương nói chung. Như vậy, cần thiết phải cách ly b cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhất đ nh để răn đe, giáo dục đối với b cáo v góp phần đấu tranh phòng chống tội phạm. Tòa án cấp sơ thẩm áp dụng hình phạt tù đối với b cáo B l phù hợp. Kháng cáo của b cáo B về việc xin được hưởng án treo l không có cơ sở chấp nhận.

Đề ngh của Viện Kiểm sát nhân d n tỉnh Bình Dương về việc không chấp nhận kháng cáo của các b cáo về tội “Đánh bạc” là phù hợp. Đối với đề ngh không chấp nhận kháng cáo của b cáo V về tội “Cướp t i sản” l chưa phù hợp.

Ý kiến của người b o chữa cho b cáo B l không có cơ sở chấp nhận.

. Các phần quyết đ nh khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng ngh nên có hiệu lực pháp luật kể từ ng y hết thời hạn kháng cáo, kháng ngh .

. Án phí hình sự phúc thẩm: Do kháng cáo không được chấp nhận nên b cáo B phải ch u. Kháng cáo của b cáo V được chấp nhận nên b cáo V không phải ch u.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm a, b khoản 1 Điều 355, Điều 356 v điểm c khoản 1 Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015,

1. Chấp nhận kháng cáo của b cáo Phạm Th nh V về tội “Cướp t i sản”. Không chấp nhận kháng cáo của các b cáo Phạm Th nh V, Phan Văn B về tội “Đánh bạc”. Sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 61/2019/HS-ST ngày 12 tháng 3 năm 2019 của Tòa án nhân dân th xã T về hình phạt đối với b cáo Phạm Th nh V về tội “Cướp t i sản”:

Căn cứ điểm d khoản 2 Điều 168; khoản 1 Điều 321; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 55, Điều 58 v Điều 54 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017),

Xử phạt b cáo Phạm Th nh V 05 (năm) năm tù về tội “Cướp t i sản’’ v 08 (tám) tháng tù về tội “Đánh bạc”. Tổng hợp hình phạt, buộc b cáo phải chấp h nh hình phạt chung của hai tội l 05 (năm) năm 08 (tám) tháng tù. Thời hạn tù được tính kể từ ng y 26/02/2019, được khấu trừ thời hạn tạm giữ từ ng y 12/3/2018 đến ng y 22/3/2018.

Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và các Điều 46, 47, 58 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017),

Xử phạt b cáo Phan Văn B 08 (tám) tháng tù về tội “Đánh bạc”. Thời hạn tù được tính kể từ ng y bắt để thi hành án.

2. Án phí hình sự phúc thẩm: Áp dụng Điều 135; khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Ngh quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy đ nh về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý v sử dụng án phí v lệ phí Tòa án: B cáo Phan Văn B phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự phúc thẩm. B cáo Phạm Thành V không phải nộp.

3. Các quyết đ nh khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng ngh đã có hiệu lực pháp luật, kể từ ng y hết thời hạn kháng cáo, kháng ngh .

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ng y tuyên án./.

Cỡ chữ