- Tranh chấp gì? Tranh chấp về hụi, họ, biêu, phường — án dân sự — "Trần Thanh Kiều- Hà Ngọc Điệp"
- Tòa quyết gì? 1/ Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn buộc bị đơn bà Hà Ngọc Đ có nghĩa vụ thanh toán cho chị Trần Thanh K số tiền 26.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CÀ MAU TỈNH CÀ MAU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 85/2019/DS-ST Ngày 14 – 6 – 2019 “V/v Tranh chấp nợ hụi” |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CÀ MAU, TỈNH CÀ MAU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Ông Dương Hùng Quang.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Võ Thanh Liêm.
- Ông Lê Văn Vượng.
- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Đình Chưởng – là Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau.
Ngày 14 tháng 6 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Cà Mau, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 09/2019/TLST-DS ngày 04 tháng 01 năm 2019, về việc “Tranh chấp nợ hụi” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 332/2019/QĐXXST-DS ngày 13 tháng 5 năm 2019 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Chị Trần Thanh K sinh năm: 1965 (Có mặt). Địa chỉ: Số 120/1D, Lý Thường Kiệt Khóm A phường B thành phố Cà M, tỉnh Cà M.
2. Bị đơn: Bà Hà Ngọc Đ (Vắng mặt). Địa chỉ: Số 01 ấp Bà Điều, xã Lý Văn L, thành phố Cà M, tỉnh Cà M.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Tại đơn khởi kiện và lời khai trong quá trình giải quyết vụ án được bổ sung tại phiên tòa nguyên đơn chị Trần Thanh K trình bày: Ngày 13/6/2010 bà Hà Ngọc Đ có viết biên nhận nợ của chị số tiền 35.000.000đ. Số tiền trên xuất phát từ việc chơi hụi và đây là khoản tiền vốn đã đóng vào, sau khi viết biên nhận bà Đ có hẹn khi nào bà Đ chuyển quyền sử dụng đất được sẽ thanh toán dứt điểm. Do chổ thâm tình họ hàng nên bà Đ hứa hẹn nhiều lần nhưng không thanh toán, nay bà yêu cầu Tòa án buộc bà Hà Ngọc Đ trả số tiền 35.000.000đ. Ngoài ra không yêu cầu gì thêm.
Đối với bà Hà Ngọc Đ mặc dù đã được Tòa án tống đạt thông báo thụ lý vụ án, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ, phiên họp hoà giải và xét xử nhiều lần nhưng bà Đ vẫn vắng mặt, đồng thời cũng không có mặt tại phiên tòa để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Tại bản ý kiến ngày 26/3/20119 bà Đ thừa nhận số tiền nợ chị K là tiền chơi hụi do bà làm chủ hụi, hụi bị bể nửa chừng nên bà có viết biên nhận nợ chị K. Sau khi viết biên nhận bà có trả cho chị K số tiền 8.600.000đ. Tuy nhiên việc trả nợ không có chứng cứ gì chứng minh, bà xác định hiện nay còn nợ lại chị K số tiền 26.400.000đ. Do không có thời gian đến Tòa án để hòa giải và xét xử nên yêu cầu Tòa án xét xử vắng mặt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về thẩm quyền và loại việc các bên tranh chấp là xuất phát từ giao dịch hụi nên loại việc tranh chấp thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 3 Điều 26, khoản 1 Điều 35 và khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Tại tòa nguyên đơn yêu cầu bị đơn trả lại số tiền vốn đã đóng.
Về việc vắng mặt của đương sự: Quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn có mặt. Đối với bị đơn bà Hà Ngọc Đ vắng mặt có yêu cầu Tòa án xét xử vắng mặt. Do đó, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án vắng mặt bà Đ theo quy định tại K2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự là phù hợp.
Về nội dung: Quan hệ pháp luật tranh chấp giữa nguyên và bị đơn đặt ra được xác định là giao dịch về hụi. Quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn khai có tham gia chơi hụi do bà Hà Ngọc Đ làm chủ, chị K là hụi viên có vô 01 chân loại hụi 2.000.000đ/ tháng, dây hụi có 27 chân. Trong quá trình giao dịch bà Đ tuyên bố bể hụi và còn nợ lại chưa thanh toán, sau đó giữa hai bên có gặp nhau quyết toán số tiền hụi xác định vốn là 35.000.000đ, đồng thời bà Đ có làm biên nhận nợ cho chị K và hẹn khi nào chuyển nhượng được nhà đất, sẽ thanh toán nhưng bà Đ hẹn nhiều lần, cho nên chị K yêu cầu buộc bà Đ trả số tiền trên.
Đối với bà Đ tại tòa hôm nay vắng mặt. Tại bản ý kiến bà Đ thừa nhận có nợ chị K số tiền 35.000.000đ nhưng bà cho là có trả được số tiền 8.600.000đ. Nay còn nợ lại 26.400.000đ và xin được trả dần. Đối chị K tại phiên tòa hôm nay cũng thống nhất và thay đổi ý kiến chỉ yêu cầu bà Đ trả số tiền 26.400.000đ. Thiết nghĩ đây là sự tự nguyện của các đương sự và phù hợp với qui định pháp luật nên chấp nhận theo yêu cầu của chị K buộc bà Đ có nghĩa vụ thanh toán cho chị K số tiền 26.400.000đ.
Về án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch các đương sự phải chịu theo qui định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ các Điều 471 Bộ luật dân sự 2015;
- Căn cứ Điều 26 Nghị định số 144/2006/NĐ-CP của Chính phủ;
- Căn cứ các Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 228, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
- Căn cứ khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.
1/ Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn buộc bị đơn bà Hà Ngọc Đ có nghĩa vụ thanh toán cho chị Trần Thanh K số tiền 26.400.000đ (Hai mươi bốn triệu sáu trăm nghìn đồng).
Kể từ ngày chị Kcó đơn yêu cầu thi hành án, nếu bà Hà Ngọc Đ không tự nguyện thi hành xong khoản tiền nêu trên, thì hàng tháng phải chịu thêm khoản lãi phát sinh theo mức lãi suất được quy định tại Điều 468 của Bộ luật dân sự 2015 tương ứng với số tiền và thời gian chậm trả tại thời điểm thi hành án.
2/ Án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch bà Đ phải chịu 1.320.000đ (Một triệu ba trăm hai chục nghìn đồng - chưa nộp). Chị K không phải chịu, ngày 04 tháng 01 năm 2019, chị K đã dự nộp tạm ứng án phí số tiền 875.000đ (Tám trăm bảy mươi lăm nghìn đồng) theo biên lai số 0001911 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Cà M được nhận lại số tiền 875.000 đồng (Tám trăm bảy mươi lăm nghìn đồng) khi bản án có hiệu lực pháp luật.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Án xử sơ thẩm công khai , nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
TM . HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận - VKSND thnh phố Cà Mau - Các đương sự - Lưu hồ sơ - Lưu án văn . | Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa Dƣơng Hùng Quang |