vanban.org

Bản án 85/2018/HS-PT — Hình sự

TAND tỉnh Cà Mau Tuyên án 11/09/2018 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 11/09/2018 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Trần Công H.

Giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm số 115/2018/HS-ST ngày 25 tháng 6 năm 2018 và Thông báo sửa chữa, bổ sung bản án số 71/TB – TA ngày 29 tháng 6 năm 2018 của Toà án nhân dân thành phố Cà M. Áp dụng: Điểm a, i khoản 1 Điều 104; điểm b, h, p khoản 1 Điều 46 của Bộ luật hình sự năm 1999 đã được sửa đổi… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Công H - Cố ý gây thương tích - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác (điều 104 Bộ luật hình sự nă…"
  • Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Trần Công H.
  • Căn cứ chính? Điều 46 Bộ luật Hình sự; Điều 104 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU
–––––––––––––––

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 85/2018/HS-PT
Ngày 11 - 9 - 2018

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Chung Văn Kết

Các Thẩm phán: Bà Châu Minh Hoàng

Ông Trần Trọng Nhân

- Thư ký phiên tòa: Ông Bùi Vũ Phong là Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Cà Mau

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau tham gia phiên tòa: Bà Quách Xía Muội - Kiểm sát viên.

Ngày 11 tháng 9 năm 2018 tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Cà Mau xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 92/2018/TLPT-HS ngày 30 tháng 7 năm 2018 đối với bị cáo Trần Công H do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 115/2018/HS-ST ngày 25 tháng 6 năm 2018 của Toà án nhân dân thành phố Cà M.

- Bị cáo có kháng cáo:

Họ và tên: Trần Công H, sinh năm 1997 tại Cà Mau

Nơi đăng ký nhân khẩu thường trú: Khóm 8, Phường 8, thành phố Cà M, tỉnh Cà Mau; nơi cư trú: Ấp Bà Đ, xã Lý Văn L, thành phố Cà M, tỉnh Cà Mau; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ học vấn: 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Phi H và bà Trần Kiều D; vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không;

Nhân thân: Từ nhỏ sống cùng gia đình tại Khóm 8, Phường 8, thành phố Cà M, đến ngày 30/12/2017 đánh người gây thương tích. Bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 01/3/2018 cho đến nay (có mặt).

- Bị hại: Võ Văn T, sinh năm 1993; Nơi cư trú: Ấp Bào G, xã Trần P, huyện Đầm D, tỉnh Cà Mau (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 02 giờ 00 phút, ngày 30/12/2017, tại Quán Ốc L trên đường Nguyễn Tất Thành thuộc Khóm 7, Phường 8, thành phố Cà M, Trần Công H đang ngồi nhậu cùng các bạn của H thì nhìn thấy nhóm thanh niên bàn kế bên gồm: Võ Văn T, Nguyễn Văn T2 và Phạm Châu T3 đang ngồi nhậu có nhìn qua bàn của H và đi qua lại nên H bực tức. Khi nhóm T tính tiền và dẫn xe ra về thì H liền cầm lấy chai bia hiệu Larue đang để trên bàn đi đến vị trí của T đang dắt xe đánh vào đầu của T làm bể chai bia do T có đội mũ bảo hiểm. H tiếp tục cầm ly thủy tinh dùng để uống bia đánh trúng vào vùng mũi của T gây thương tích. Đồng thời, H quay sang vị trí T2 và T3 đang ngồi trên xe tiếp tục dùng vỏ chai bia và ly thủy tinh đang để trên bàn đánh liên tục vào người của T2 và T3. Sau đó, T, T2 và T3 bỏ chạy và báo công an Phường 8 đến lập biên bản.

Tại Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 21/TgT ngày 06/02/2018 của Trung tâm pháp y tỉnh Cà Mau kết luận: Đối với Võ Văn T bị gãy xương mũi do vật tày gây ra. Tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên là: 9%.

Tại bản án hình sự sơ thẩm số 115/2018/HS-ST ngày 25 tháng 6 năm 2018 và thông báo sửa chữa, bổ sung bản án số 71/TB – TA ngày 29 tháng 6 năm 2018 của Toà án nhân dân thành phố Cà M quyết định:

Căn cứ điểm a, i khoản 1 Điều 104; điểm b, h, p khoản 1 Điều 46 của Bộ luật hình sự năm 1999 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2009 tuyên bố bị cáo Trần Công H phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

Xử phạt bị cáo Trần Công H 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án.

Ngoài ra, án sơ thẩm còn tuyên về trách nhiệm dân sự, xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo pháp luật quy định.

Ngày 04 tháng 7 năm 2018, bị cáo Trần Công H có đơn kháng cáo xin hưởng án treo.

Tại phiên tòa, bị cáo giữ nguyên nội dung kháng cáo.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau tham gia phiên toà đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a khoản 1 Điều 355 và Điều 356 Bộ luật tố tụng hình sự, không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm về hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Tại phiên tòa, Trần Công H thừa nhận khoảng 02 giờ 00 phút, ngày 30/12/2017 tại Quán Ốc L trên đường Nguyễn Tất Thành thuộc Khóm 7, Phường 8, thành phố Cà M, bị cáo dùng chai bia đánh vào đầu của Võ Văn T, sau đó tiếp tục cầm ly thủy tinh đánh trúng vào vùng mũi của T gây thương tích với tỷ lệ tổn thương là 9%. Lời khai nhận của bị cáo phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Sau khi sự việc xảy ra, bị hại Võ Văn T có yêu cầu xử lý hình sự đối với Trần Công H.

Do đó, bản án hình sự sơ thẩm số 115/2018/HS-ST ngày 25 tháng 6 năm 2018 của Toà án nhân dân thành phố Cà M xét xử bị cáo Trần Công H về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm a, i khoản 1 Điều 104 của Bộ luật hình sự năm 1999 là có căn cứ.

. Xét kháng cáo của bị cáo thấy rằng: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm hại trực tiếp đến sức khỏe bị hại một cách trái pháp luật. Bị cáo phạm tội với tình tiết định khung là “dùng hung khí nguy hiểm” và “có tính chất côn đồ”. Tại khoản 1 Điều 3 Nghị Quyết 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự về án treo quy định:

“Điều 3. Những trường hợp không cho hưởng án treo

1. Người phạm tội là người chủ mưu, cầm đầu, chỉ huy, ngoan cố chống đối, côn đồ, dùng thủ đoạn xảo quyệt, có tính chất chuyên nghiệp, lợi dụng chức vụ quyền hạn để trục lợi, cố ý gây H quả đặc biệt nghiêm trọng.

….”

Do đó, bị cáo không đủ điều kiện được hưởng án treo theo quy định trên; Án sơ thẩm đã áp dụng đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, xử phạt bị cáo 06 tháng tù, mức khởi điểm của khung hình phạt tù tại điều luật là tương xứng với tính chất, mức độ, H quả do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra. Vì vậy, Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bị cáo.

. Án phí hình sự phúc thẩm bị cáo phải chịu theo quy định pháp luật.

. Các nội dung khác của quyết định án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị, có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo kháng nghị nên không đặt ra xem xét.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 của Bộ luật Tố tụng Hình sự; Khoản 1 Điều 3 Nghị Quyết 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự về án treo.

Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Trần Công H.

Giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm số 115/2018/HS-ST ngày 25 tháng 6 năm 2018 và Thông báo sửa chữa, bổ sung bản án số 71/TB – TA ngày 29 tháng 6 năm 2018 của Toà án nhân dân thành phố Cà M.

Áp dụng: Điểm a, i khoản 1 Điều 104; điểm b, h, p khoản 1 Điều 46 của Bộ luật hình sự năm 1999 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2009; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án,

Xử phạt: Xử phạt bị cáo Trần Công H 06 (sáu) tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án.

Về án phí: Bị cáo Trần Công H phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 200.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm.

Các quyết định khác của án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ