- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp ly hôn giữa ông T và bà A"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn T đối với bà Nguyễn Kim A.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 51 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TÂY NINH TỈNH TÂY NINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 85/2018/HNGĐ-ST Ngày: 25-9-2018 V/v “Tranh chấp ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TÂY NINH, TỈNH TÂY NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đinh Thị Thanh Hoa
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Trần Tấn Phát
2. Bà Lê Thị Một
- Thư ký phiên tòa: Bà Vũ Thị Thùy Trang - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Tây Ninh, tỉnh Tây Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tây Ninh, tỉnh Tây Ninh tham gia phiên toà: Bà Dương Thị Tiểu Phương - Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 9 năm 2018 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Tây Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 388/2018/TLST- HNGĐ ngày 09 tháng 7 năm 2018 về “Tranh chấp ly hôn ” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 88/2018/QĐXX - ST ngày 07 tháng 9 năm 2018 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Ông Nguyễn Văn T, sinh năm: 1949; Địa chỉ: Đường TNV, khu phố N, Phường M, thành phố TN, tỉnh Tây Ninh. Có mặt.
2. Bị đơn: Bà Nguyễn Kim A, sinh năm 1952; Địa chỉ: Đường TNV, khu phố N, Phường M, thành phố TN, tỉnh Tây Ninh. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn ông Nguyễn Văn T trình bày:
Ông và bà Nguyễn Kim A chung sống với nhau năm 1969, đến năm 1989 đăng ký kết hôn
Phường 1, thị xã Tây Ninh ( nay là thành phố Tây Ninh), tỉnh Tây Ninh. Ông bà chung sống hạnh phúc đến năm 2003 thì phát sinh mâu thuẫn do bất đồng với nhau về quan điểm sống. Vợ chồng ly thân từ năm 2003 nhưng vẫn ở chung nhà. Từ giữa tháng 03/2017 ông đi làm gần biên giới Campuchia và chính thức ly thân không còn sống chung với bà A và yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn; tại Bản án số 47/2017/HNGĐ-ST ngày 19-6-2017 của Tòa án nhân dân thành phố Tây Ninh quyết định không chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của ông. Sau khi Tòa án giải quyết, ông và bà A vẫn sống ly thân, ông thuê nhà trọ sống riêng, vợ chồng không có khả năng đoàn tụ được nên ông yêu cầu Tòa án giải quyết cho ông được ly hôn với bà Nguyễn Kim A.
Về con chung: Ông và bà Nguyễn Kim A có 03 con chung tên Nguyễn Hồng N, sinh năm 1974; Nguyễn Tấn L, sinh năm 1975 và Nguyễn Hồng T, sinh năm 1979. Hiện chị N, anh L, chị T đã trưởng thành, có gia đình riêng, tự lao động sinh sống được nên ông không yêu cầu giải quyết.
Về tài sản chung: Ông không yêu cầu giải quyết.
Về nợ chung: Ông không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Theo bị đơn bà Nguyễn Kim A trình bày:
Bà thừa nhận lời trình bày của ông T về hôn nhân, thời gian kết hôn là đúng. Trong suốt quá trình chung sống tới nay bà nhận thấy tôi luôn làm tròn đạo lý người vợ, người con dâu, hy sinh tất cả cho chồng con, bà nhận thấy không có bất cứ lỗi lầm gì với ông T.
Sau khi Tòa án giải quyết không cho ly hôn lần thứ nhất, đến nay bà cũng đồng ý ly hôn với ông T nhưng bà đề nghị ông T dành cho bà thời gian vài tháng để bán nhà đất chia tài sản. Sau khi bán nhà đất, chia tài sản xong bà sẽ ký thủ tục ly hôn cho ông T nhưng ông T không đồng ý cho bà thời gian mà nộp đơn yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn. Do bà là người đạo Công giáo nên bà không đồng ý ký thủ tục thuận tình ly hôn với ông T mà để Tòa án xử.
Về con chung: có 03 người con chung đã trưởng thành không yêu cầu giải quyết.
Tài sản chung: Bà không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Nợ chung: không có.
Tại phiên tòa, bà A trình bày bà không còn tình cảm vợ chồng với ông T nhưng không đồng ý ly hôn do ông bà đã lớn tuổi, đề nghị ông T vẫn duy trì cuộc sống ly thân như hiện nay và bà tôn trọng cuộc sống riêng của ông T.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tây Ninh trình bày:
Việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán và Hội đồng xét xử: Thẩm phán thụ lý giải quyết đúng thẩm quyền, việc thu thập chứng cứ, chuẩn bị xét xử và ra quyết định đưa vụ án ra xét xử đều đảm bảo đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng: Nguyên đơn, bị đơn, Hội đồng xét xử đã chấp hành và thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung vụ án: Đề nghị HĐXX áp dụng Điều 51, 56 Luật hôn nhân và gia đình chấp nhận yêu cầu của ông T, cho ông Nguyễn Văn T được ly hôn với bà Nguyễn Kim A. Về án phí ông T phải chịu theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án do các bên cung cấp, qua kết quả thẩm tra các tài liệu chứng cứ tại phiên tòa, ý kiến của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định:
Về hôn nhân: Ông Nguyễn Văn T và bà Nguyễn Kim A chung sống từ năm 1969, có đăng ký kết hôn tại UBND Phường 1, thị xã Tây Ninh ( nay là thành phố Tây Ninh) năm 1989 nên hôn nhân của ông T và bà A là hợp pháp, được pháp luật thừa nhận và bảo vệ.
Theo ông T mâu thuẫn phát sinh là do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, cuộc sống hôn nhân của ông bà không hạnh phúc từ năm 2003. Bà A cho rằng vợ chồng chung sống không có mâu thuẫn gì, trong quá trình chung sống bà làm tròn đạo lý người vợ, người con dâu, không có lỗi gì với ông T và gia đình bên chồng.
Xét thấy, năm 2017, ông T đã yêu cầu Tòa án giải quyết cho ông với bà A ly hôn. Tại bản án số 47/2017/HNGĐ-ST ngày 19-6-2017 của Tòa án nhân dân thành phố Tây Ninh không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông T, cho ông và bà A có thêm thời gian hàn gắn tình cảm vợ chồng. Từ khi có bản án đến này, ông T và bà A vẫn sống ly thân, ông bà không tìm được tiếng nói chung để vợ chồng đoàn tụ. Trong bản tự khai, biên bản hòa giải và tại phiên tòa hôm nay bà A trình bày bà không muốn ly hôn không phải vì còn tình cảm với ông T mà do bà là người theo đạo Công giáo nên không muốn ly hôn. Tại phiên tòa bà A đề nghị Tòa án không chấp nhận yêu cầu của ông T và đề nghị ông bà tiếp tục duy trì cuộc sống ly thân và bà tôn trọng đời sống riêng tư của ông. Hội đồng xét xử nhận thấy tình cảm vợ chồng giữa ông T và bà A không còn, mục đích bà A đề nghị duy trì cuộc sống hôn nhân hôn nhân không phải vì mục đích nhằm xây dựng đời sống chung của vợ chồng nên mâu thuẫn của ông bà đã trầm trọng, thoả mãn các quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông T và lời đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tây Ninh cho ông T được ly hôn với bà A.
Về con chung, tài sản chung, nợ chung: Ông T và bà A không yêu cầu nên Tòa án không giải quyết.
Về án phí: Ông T phải chịu án phí theo quy định tại Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự và Nghị quyết số 326/2016/UBNTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, ông T phải chịu án phí.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 51, Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBNTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn T đối với bà Nguyễn Kim A.
Về hôn nhân: Cho ông Nguyễn Văn T ly hôn với bà Nguyễn Kim A. Ông Nguyễn Văn T và bà Nguyễn Kim A chấm dứt quan hệ vợ chồng.
2. Về con chung, tài sản chung, nợ chung: Tòa án không giải quyết.
3. Về án phí: Ông Nguyễn Văn T phải chịu 300.000 Hôn nhân và gia đình, khấu trừ tiền tạm ứng án phí ông T đã nộp 300.000 đồng theo biên lai số 0005688 ngày 09/7/2018 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Tây Ninh, tỉnh Tây Ninh.
Đương sự có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Tây Ninh; - VKSND TP Tây Ninh; - THADS TP Tây Ninh; - Các đương sự; - UBND Phường 1; - Lưu. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỦ THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Đinh Thị Thanh Hoa |