- Tranh chấp gì? án hành chính — "Lê Hữu X, Phạm Thị Đ kiện UBND thành phố B, Chủ tịch UBND thành phố B"
- Tòa quyết gì? định số: 181/2004/NĐ-CP ngày 29/10/2004 của Chính phủ; Nghị quyết số:
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 125 Luật Đất đai; Điều 125 Luật đất đai nă
Số: 85/2018/HC-PT Ngày: 10/04/2018 |
TÒ ÁN NHÂN DÂN CẤP C O CỘNG HÒ XÃ HỘI CHỦ NGHĨ VIỆT N M ————————— ——————————————————— Ngày 10 – 4 – 2018 V/v “khi u kiện quy t định hành chính về quản lý đất đai”. NHÂN D NH NƯỚC CỘNG HÒ XÃ HỘI CHỦ NGHĨ VIỆT N M TÒ ÁN NHÂN DÂN CẤP C O TẠI THÀNH PH HỒ CHÍ MINH - Th nh phần Hội đ ng xét xử phúc thẩm g m có: Thẩ phán - Chủ t a phiên tòa: Ông Huỳnh Công Lý Các Thẩ phán: Ông Phạm Công Mười Ông Nguyễn Văn Hùng - Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Minh Trang – Thư ký Toà án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh. - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Th nh phố H Chí Minh: Bà Nguyễn Thị Thanh – Kiểm sát viên tham gia phiên tòa. phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm công khai vụ án hành chính thụ lý số: chính về quản lý đất đai”. 2017 của Tòa án nhân dân tỉnh B n Tre bị kháng cáo. 1.
Người khởi kiện: 1.1/ Ông Lê Hữu X, sinh năm 1951; Địa chỉ: phường P, thành phố B, tỉnh B n Tre. Người đại diện hợp pháp theo ủy quyền: Ông Võ Thanh D, sinh năm 1992; Địa chỉ: ấp B1, xã B2, thành phố B (theo văn bản ủy quyền ngày 14/8/2017). 1.2/ Bà Phạm Thị Đ, sinh năm 1953; Địa chỉ: phường P, thành phố B, tỉnh B n Tre. Người đại diện hợp pháp theo ủy quyền: Bà Cao Thị Y n N, sinh năm 1992; Địa chỉ: ấp B1, xã B2, thành phố B (theo văn bản ủy quyền ngày 14/8/2017).
2. Người bị kiện: 2.1/ Ủy ban nhân dân thành phố B. 2.2/ Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố B. Địa chỉ: phường X, thành phố B, tỉnh B n Tre. Người đại diện hợp pháp theo pháp luật: Ông Cao Thanh H – Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố B (có đơn xin xét xử vắng mặt). 2.3/ Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh B – ông Cao Văn T. Địa chỉ: đường C, phường Y, thành phố B, tỉnh B n Tre (có đơn xin xét xử vắng mặt). Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người bị kiện: Ông Nguyễn Văn Bé C – Cán bộ Phòng Tài nguyên và Môi trường thành phố B – có mặt). 3. Người kháng cáo: Ông Lê Hữu X và bà Phạm Thị Đ – là người khởi kiện.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 25/7/2017, biên bản phiên h p kiể tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ, biên bản đối thoại cũng như tại phiên toà, ông Võ Thanh D và bà Cao Thị Yến N là người đại diện theo ủy quyền của người khởi kiện trình bày: Năm 1989, ông Lê Hữu X và vợ ông là bà Phạm Thị Đ được nhà nước cấp cho một diện tích đất 118,1m2 để làm nhà ở, thuộc thửa đất số 53, tờ bản đồ số 11, tọa lạc tại phường P1, thị xã B (nay thuộc phường P, thành phố B). Ngày 10/6/2006, bà Đ làm đơn xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, hồ sơ đề nghị cấp giấy đều ghi mục đích sử dụng là đất thổ cư. Tuy nhiên, UBND thị xã B lại cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng với mục đích sử dụng là đất trồng cây lâu năm (CLN). Do không chú ý nên khi nhận giấy chứng nhận ông X, bà Đ đã không yêu cầu điều chỉnh mục đích sử dụng đất. Năm 2012, ông X, bà Đ mới bi t đất của mình được cấp giấy chứng nhận là đất trồng cây lâu năm. Lúc đó, ông X, bà Đ có gửi đơn đ n Phòng Tài nguyên và Môi trường đề nghị cho phép được chuyển sang mục đích sử dụng là đất thổ cư. Ngày 25/12/2012, UBND thành phố B ban hành Quy t định số 724/QĐ-UBND về việc cho phép chuyển mục đích sử dụng từ loại đất trồng cây lâu năm sang loại đất ở đô thị diện tích 100m2, nhưng yêu cầu bà Đ phải nộp tiền sử dụng đất, phí và lệ phí theo quy định pháp luật. Không đồng ý nên vào ngày 07/6/2014, bà Đ gửi đơn yêu cầu Phòng Tài nguyên và Môi trường đề nghị điều chỉnh công nhận diện tích 118,1m2 đất trồng cây lâu năm sang đất thổ cư. Ngày 03/9/2014, Phòng Tài Nguyên và Môi Trường ban hành Văn bản số 1594/TNMT và ngày 21/4/2015 UBND thành phố B có văn bản số 541/UBND-TNMT trả lời nội dung: yêu cầu điều chỉnh mục đích sử dụng đất từ cây lâu năm sang đất ở mà không phải nộp tiền sử dụng đất của bà Đ đối với thửa đất số 53 tờ bản đồ số 11, phường P là không có cơ sở xem xét
giải quy t. Ngày 27/5/2015, ông X, bà Đ có đơn khi u nại. Ngày 03/10/2016, Chủ tịch UBND thành phố B ban hành quy t định số 2835/QĐ-UBND với nội dung không chấp nhận đơn khi u nại nên ông X, bà Đ khi u nại ti p. Ngày 05/01/2017, UBND tỉnh B n Tre đã tổ chức đối thoại. Ngày 14/7/2017, Chủ tịch UBND tỉnh B n Tre ban hành quy t định số 1593/QĐ-UBND về việc giải quy t khi u nại (lần 2) cũng không công nhận nội dung đơn khi u nại của ông X, bà Đ. Vì vậy, ông X, bà Đ khởi kiện yêu cầu Tòa án xử hủy các quy t định hành chính sau đây: Quy t định số 724/QĐ-UBND ngày 25/12/2012 của UBND thành phố B về việc chuyển mục đích sử dụng đất; Văn bản số 541/UBND- TNMT ngày 21/4/2015 của UBND thành phố B; Quy t định số 2835/QĐ-UBND ngày 03/10/2016 của Chủ tịch UBND thành phố B và Quy t định số 1593/QĐ- UBND ngày 14/7/2017 của Chủ tịch UBND tỉnh B n Tre về việc giải quy t khi u nại. Theo Văn bản số 2418/UBND-NC ngày 28/8/2017 và Văn bản số 2249/UBND-NC ngày 11/8/2017, ông Cao Thành H là người đại diện theo pháp luật của Ủy ban nhân dân thành phố B và Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố B trình bày: Thửa đất số 53 tờ bản đồ số 11, diện tích 118,1 m2 tọa lạc tại phường P1 (nay là phường P, thành phố B) bà Đ đang quản lý sử dụng có nguồn gốc do UBND xã P1 (sau là phường P1) cấp để làm nhà ở từ năm 1989 cho đ n nay. Căn cứ khoản 4 Điều 13 Luật Đất đai năm 1987, việc UBND xã P1 giao cấp phần đất trên cho bà Đ là không đúng thẩm quyền. Ngày 10/6/2006, bà Đ có đơn xin cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất diện tích 117,61 m2, loại đất ở. Theo giấy xác nhận nguồn gốc đất do bà Đ kê khai và được UBND phường P1 xác nhận vào ngày 27/11/2006 thể hiện: Thửa đất trên có nguồn gốc do Cấp ủy và UBND xã P1 cấp đất để làm nhà ở từ năm 1989 cho đ n nay (có đơn xin phép cất nhà ở và giao cấp đất của UBND xã P1). Ngày 13/4/2007, Hội đồng đăng ký đất đai phường P1 họp thông qua hồ sơ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của bà Đ đối với thửa đất 53 tờ bản đồ số 11, với diện tích 118,1 m2, loại đất vườn có nguồn gốc đất nghĩa địa Gò Nổi do UBND xã P1 tạm cấp năm 1989. K t quả Hội đồng xét duyệt đất đai phường P1 thống nhất giải quy t trường hợp xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của bà Đ thuộc diện giao cấp, sử dụng đất trái pháp luật, được xem xét xử lý theo Chỉ thị 77/CT ngày 09/3/1992 của Hội đồng Bộ trưởng. Trên cơ sở k t quả xét duyệt của Hội đồng đăng ký đất đai phường P1, Phòng Tài nguyên và Môi trường thị xã B n Tre có Tờ trình số 5356/TTr-TNMT. Ngày 19/6/2007, bà Đ được UBND thị xã B cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, số vào sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số HPK/02470, số phát hành AH636366 tại thửa đất số 53, tờ bản đồ số 11, diện tích 118,1 m2 (diện tích có đo đạc sửa sai) tọa lạc tại phường P1, thành phố B với loại đất trồng cây lâu năm, không có diện tích đất ở.
Việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất như trên, căn cứ theo Chỉ thị 77/CT ngày 09/3/1992 của Hội đồng Bộ trưởng về việc thực hiện một số biện pháp cấp bách để ngăn chặn việc giao đất, mua bán, chuyển nhượng và sử dụng đất trái pháp luật và Văn bản số 1004/UBND-TNMT ngày 11/4/2006 của UBND tỉnh B n Tre về việc cho chủ trương giải quy t diện tích đất giao cấp trước đây vi phạm Chỉ thị 77/CT ngày 09/3/1992 của Hội đồng Bộ trưởng là phù hợp. Bản thân ông X, bà Đ khi nhận giấy chứng nhận quyền xử dụng đất từ năm 2007, bi t đất mình được cấp là loại đất trồng cây lâu năm nhưng không có khi u nại gì. Đ n năm 2012, ông bà làm đơn xin chuyển mục đích sang đất ở, được UBND thành phố B chấp thuận theo Quy t định số 724/QĐ-UBND ngày 25/12/2012 nhưng thuộc trường hợp phải nộp tiền sử dụng đất, bà Đ còn làm đơn xin ghi nợ tiền sử dụng đất, được Văn phòng quản lý đất đai chỉnh lý ghi vào giấy chứng nhận ngày 03/01/2013 nhưng đ n ngày 07/6/2014 ông X, bà Đ mới khi u nại không có căn cứ nên Chủ tịch UBND thành phố B giải quy t không chấp nhận khi u nại của ông X, bà Đ là đúng đắn, đúng trình tự thủ tục quy định. Theo Văn bản số 2804/UBND-NC ngày 23/8/2017, Văn bản số 3803/ UBND-NC ngày 23/8/2017, ông Cao Văn T là người đại diện theo pháp luật của Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Bến Tre trình bày: Năm 1989, UBND xã P1 giao cấp diện tích 118,1m2 (theo đo đạc thực t năm 2007) đất thửa số 53 tờ bản đồ số 11, tọa lạc tại phường P1 (nay thuộc phường P) cho gia đình bà Đ là không đúng thẩm quyền được quy định tại khoản 4 Điều 13 Luật đất đai 1987, việc cấp đất sai thẩm quyền phải được thu hồi theo Chỉ thị số 77/CT ngày 09/3/1992 của Hội đồng Bộ trưởng. Ngày 11/4/2006, UBND tỉnh B n Tre có Văn bản số 1004/UBND-TNMT cho chủ trương giải quy t các trường hợp giao cấp đất sai thẩm quyền, theo đó: “Đối với các trường hợp trước đây giao, cấp đất có diện tích từ 300 m2 trở xuống, thì nay giao quyền sử dụng đất loại đất nông nghiệp và không thu tiền quyền sử dụng đất…” và căn cứ công văn trên, ngày 19/6/2007, UBND thị xã B cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất diện tích 118,1m2 thuộc loại đất trồng cây lâu năm nêu trên cho bà Phạm Thị Đ. Tuy nhiên, bà Đ không đồng ý và gửi đơn khi u nại, yêu cầu điều chỉnh mục đích sử dụng diện tích 118,1m2 đất trồng cây lâu năm sang đất thổ cư và không nộp tiền sử dụng đất.
Xét thấy, yêu cầu của bà Đ là không có cơ sở giải quy t, ngày 03/10/2016, Chủ tịch UBND thành phố B ban hành Quy t định số 2835/QĐ-UBND không công nhận nội dung đơn khi u nại của bà Đ. Bà Đ ti p tục gửi đơn khi u nại đ n Chủ tịch UBND tỉnh B n Tre. Sau khi xem xét k t quả kiểm tra, đề xuất của cơ quan chức năng và nội dung đơn khi u nại của bà Đ, xét thấy yêu cầu của bà Đ là không có cơ sở giải quy t nên ngày 14/7/2017, Chủ tịch UBND tỉnh B n Tre ban hành Quy t định số 1593/QĐ-UBND không công nhận nội dung đơn khi u nại của bà Đ. Quy t định số 1593/QĐ-UBND ngày 14/7/2017 của Chủ tịch UBND tỉnh B n Tre là đúng pháp luật.
Tại bản án hành chính sơ thẩ số 20/2017/HC-ST ngày 15/9/2017, Tòa án nhân dân tỉnh Bến Tre quyết định: Áp dụng các Điều 30, 32; Điều 158, điểm a khoản 2 Điều 193, khoản 1 Điều 348 Luật tố tụng hành chính; khoản 4 Điều 13 Luật đất đai năm 1987; Điều 125 Luật đất đai năm 2003; Điều 134 Nghị định số 181/2004/NĐ-CP ngày 29/10/2014 của Chính phủ; khoản 1 Điều 18, khoản 2 Điều 21, các Điều 31, 39 và 40 Luật khi u nại; khoản 1 Điều 32 Nghị quy t số 326/2016/UNTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội; Bác yêu cầu khởi kiện của ông Lê Hữu X, bà Phạm Thị Đ về việc yêu cầu hủy các quy t định sau đây: - Quy t định số 724/QĐ-UBND ngày 25/12/2012 của Ủy ban nhân dân thành phố B về việc cho phép chuyển mục đích sử dụng đất; - Văn bản số 541/UBND-TNMT ngày 21/4/2015 của Ủy ban nhân dân thành phố B về việc trả lời đơn của bà Phạm Thị Đ và ông Lê Hữu X, tại phường P, thành phố B; - Quy t định số 2835/QĐ-UBND ngày 03/10/2016 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố B về việc giải quy t khi u nại của bà Phạm Thị Đ, ngụ tại 60A3, khu phố 1, phường P, thành phố B. - Quy t định số 1593/QĐ-UBND ngày 14/7/2017 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh B n Tre về việc giải quy t khi u nại (lần 2) của bà Phạm Thị Đ, cư ngụ số 60A3, khu phố 1, phường P, thành phố B, tỉnh B n Tre. Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn tuyên về án phí và quyền kháng cáo theo luật định. Ngày 26/9/2017, người khởi kiện là ông Lê Hữu X, Phạm Thị Đ làm đơn kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm. Tại phiên tòa phúc thẩm, người khởi kiện vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, giữ nguyên kháng cáo; các đương sự không thống nhất được với nhau về việc giải quy t vụ án. Ý ki n của Kiểm sát viên đề nghị không chấp nhận kháng cáo của ông Lê Hữu X và bà Phạm Thị Đ, giữ nguyên quy t định của bản án sơ thẩm. NHẬN ĐỊNH CỦ TÒ ÁN: [1] Nguồn gốc thửa đất số 53, tờ bản đồ số 11, tọa lạc tại phường P1, thị xã B n Tre cũ (nay là phường P, thành phố B) do UBND xã P1 trước đây cấp cho bà Phạm Thị Đ để làm nhà ở từ năm 1989 cho đ n nay. Căn cứ khoản 4 Điều 13 Luật đất đai năm 1987, việc UBND xã P1 giao cấp đất cho bà Phạm Thị Đ là trái pháp luật, không đúng thẩm quyền. [2] Năm 2006, bà Đ làm thủ tục xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đối với phần đất trên. Hội đồng xét duyệt đất đai phường P1 thống nhất xem xét giải quy t trường hợp xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của bà Đ. Ngày 19/6/2007, UBND thành phố B căn cứ theo Chỉ thị 77/CT ngày 09/3/1992 của Hội đồng bộ trưởng về việc thực hiện một số biện pháp cấp
bách để ngăn chặn việc giao cấp, mua bán, chuyển nhượng và sử dụng đất trái pháp luật và Văn bản số 1004/UBND-TNMT ngày 11/4/2006 của UBND tỉnh B n Tre về việc cho chủ trương giải quy t diện tích đất giao cấp trước đây vi phạm theo Chỉ thị 77/CT ngày 09/3/1992 của Hội đồng Bộ trưởng, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bà Đ thửa đất nêu trên, diện tích 118,1m2 loại đất trồng cây lâu năm (CLN). Sau khi được cấp giấy chứng nhận, bà Đ, ông X không có khi u nại gì. Đ n ngày 06/12/2012, bà Đ làm đơn đề nghị đăng ký bi n động về quyền sử dụng đất diện tích 100m2 từ loại đất trồng cây lâu năm sang đất ở. Sau khi thẩm tra, ngày 25/12/2012, UBND thành phố B ban hành Quy t định số 724/QĐ-UBND cho phép bà Đ chuyển mục đích sử dụng đất từ đất trồng cây lâu năm (CLN) sang đất ở đô thị (ODT) diện tích 100m2. Ngày 28/12/2012, bà Đ có đơn xin ghi nợ tiền sử dụng đất và đã được Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất thành phố B chỉnh lý ghi nợ trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất vào ngày 03/01/2013. Đ n ngày 07/6/2014, ông X, bà Đ mới có đơn khi u nại về việc điều chỉnh chuyển mục đích sử dụng đất mà phải nộp tiền sử dụng. [3] Xét, năm 2007, khi bà Đ được UBND thị xã B cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng thì bà đã bi t mục đích sử dụng đất là loại đất trồng cây lâu năm (CLN) nhưng bà không có khi u nại gì. Khi khởi kiện, bà Đ cho rằng không chú ý nên không bi t giấy ghi mục đích sử dụng loại đất trồng cây lâu năm là không có căn cứ. Việc cấp giấy giấy chứng nhận với loại đất như trên là hoàn toàn đúng theo chủ trương của UBND tỉnh B n Tre tại Văn bản số 1004/UBND- TNMT ngày 11/4/2006 về việc cho chủ trương giải quy t diện tích đất giao cấp trước đây vi phạm theo Chỉ thị 77/CT ngày 09/3/1992 của Hội đồng Bộ trưởng. Đồng thời năm 2012, bà Đ cũng đã tự nguyện làm đơn đăng ký chuyển mục dích sử dụng đất, tự nguyện làm đơn xin ghi nợ tiền sử dụng đất. Sau khi được UBND thành phố B ban hành quy t định cho chuyển mục đích và việc chỉnh lý ghi nợ xong từ ngày 03/01/2013, ông X, bà Đ không có ý ki n gì, đ n ngày 07/6/2014 bà Đ, ông X mới khi u nại là không có phù hợp. [4] Từ những căn cứ trên, Chủ tịch UBND thành phố B và Chủ tịch UBND tỉnh B n Tre ban hành các quy t định giải quy t không chấp nhận khi u nại của bà Đ, ông X là đúng pháp luật về đất đai. Xét thấy, việc Chủ tịch UBND thành phố B và tỉnh B n Tre xem xét và ban hành các quy t định giải quy t khi u nại của ông X, bà Đ là đúng trình tự, thủ tục, thẩm quyền theo quy định pháp luật. Tòa án cấp sơ thẩm xử bác yêu cầu khởi kiện đòi hủy các quy t định trên của ông X, bà Đ là có căn cứ, đúng pháp luật. Ông X, bà Đ kháng cáo nhưng cũng không có chứng cứ nào khác nên Hội đồng xét xử phúc thẩm không chấp nhận. Ý ki n của Kiểm sát viên tại phiên tòa có căn cứ, quy t định của bản án sơ thẩm được giữ nguyên. Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 241 của Luật tố tụng hành chính; khoản 4 Điều 13 của Luật đất đai nă 1987; Điều 125 của Luật đất đai nă 2003; Nghị định số: 181/2004/NĐ-CP ngày 29/10/2004 của Chính phủ; Nghị quyết số: 326/2016/ UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội. 1. Bác kháng cáo của người khởi kiện ông Lê Hữu X, bà Phạm Thị Đ và giữ nguyên quy t định của bản án sơ thẩm. Tuyên xử: Bác yêu cầu khởi kiện của ông Lê Hữu X, bà Phạm Thị Đ về việc yêu cầu hủy các quy t định sau đây: - Quy t định số: 724/QĐ-UBND ngày 25/12/2012 của Ủy ban nhân dân thành phố B về việc cho phép chuyển mục đích sử dụng đất; - Văn bản số: 541/UBND-TNMT ngày 21/4/2015 của Ủy ban nhân dân thành phố B về việc trả lời đơn của bà Phạm Thị Đ và ông Lê Hữu X; - Quy t định số: 2835/QĐ-UBND ngày 03/10/2016 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố B về việc giải quy t khi u nại của bà Phạm Thị Đ. - Quy t định số: 1593/QĐ-UBND ngày 14/7/2017 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh B n Tre về việc giải quy t khi u nại (lần 2) của bà Phạm Thị Đ. 2. Về án phí: - Án phí sơ thẩm: Ông Lê Hữu X và bà Phạm Thị Đ mỗi người chịu 300.000 đồng án phí hành chính sơ thẩm. Khấu trừ tạm ứng án phí ông bà đã nộp theo biên lai thu số 0002686 và 0002687 cùng ngày 03/8/2017 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh B n Tre. - Án phí phúc thẩm: Ông Lê Hữu X, bà Phạm Thị Đ mỗi người chịu 300.000 đồng án phí hành chính phúc thẩm. Khấu trừ tạm ứng án phí ông bà đã nộp theo các biên lai thu số 0002705; số 0002704 cùng ngày 26/9/2017 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh B n Tre. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận: - Tòa án nhân dân tối cao; - VKSNDCC tại TP.HCM; - TAND tỉnh B n Tre; - VKSND tỉnh B n Tre; - Cục Thi hành án dân sự tỉnh B n Tre; - Người khởi kiện (2); - Người bị kiện (3); - Lưu VP (3). HS (2). 15b (Án-22) | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌ PHIÊN TÒ Huỳnh Công Lý |