vanban.org

Bản án 85/2017/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

1/ Chấp nhận yêu cầu của bà Ma Ch đƣợc ly hôn ông Ya Du L.

2/ Về con chung: Giao cho bà Ma Ch trực tiếp nuôi con chung tên Ya M, sinh ngày 14/12/2015 cho đến ngày con chung thành niên. Buộc ông Ya Du L có nghĩa vụ cấp dƣỡng nuôi con chung 1.000.000 đồng/ 1 tháng, thời gian cấp dƣỡng kể từ tháng 01 năm 2018 cho đến ngày con chung thành niên. Quyền thăm nom c… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Mà ma C xin ly hôn ông Ya Du L"
  • Tòa quyết gì? 1/ Chấp nhận yêu cầu của bà Ma Ch đƣợc ly hôn ông Ya Du L.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 195 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN Đ
TỈNH LÂM ĐỒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 85/2017/HNGĐ-ST
Ngày: 15 /12/2017
V/v: Xin ly hôn giữa bà Ma Ch
và ông Ya Du L”

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Đ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà ĐẶNG THỊ THANH HƢƠNG

Các Hội thẩm nhân dân: 1/ Bà ĐINH THỊ PHÚC.

2/ Bà PHẠM THỊ HỒNG KHUYÊN.

- Thư ký phiên tòa: Bà TRỊNH THANH VÂN – Thƣ ký Tòa Án nhân dân Huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Huyện Đ tham gia phiên tòa: Bà TRẦN HẢI YẾN.

Ngày 15 tháng 12 năm 2017 tại trụ sở Tòa Án nhân dân Huyện Đ xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 458/2017/TLST- HNGĐ ngày 11 tháng 10 năm 2017 về việc xin ly hôn theo Quyết định đƣa vụ án ra xét xử số 105/2017/QĐXXST- HNGĐ ngày 04 tháng 12 năm 2017 giữa các đƣơng sự:

1. Nguyên đơn: Bà Ma Ch, sinh năm 1996; Nghề nghiệp: Làm nông.

Trú tại: Thôn C, xã T, Huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng.

2. Bị đơn: Ông Ya Du L, sinh năm 1987; Nghề nghiệp: Làm nông.

Trú tại: Thôn S , xã Đ, Huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng.

(Bà Ma Ch và ông Ya Du L có mặt tại phiên tòa)

NỘI DUNG VỤ ÁN

*/ Theo đơn xin ly hôn và lời khai của nguyên đơn bà Ma Ch trình bày:

Bà cùng ông Ya Du L kết hôn năm 2015, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, Huyện Đ. Hôn nhân do hai bên gia đình mai mối nên không có thời gian tìm hiểu nhau, có tổ chức lễ cƣới hỏi theo phong tục tập quán. Quá trình vợ chồng chung sống hạnh phúc đƣợc 01 tháng đầu sau khi kết hôn thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do ông Ya Du L yêu cầu đƣợc đứng tên trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của bà nhƣng bà không đồng ý, ngoài ra nguyên nhân còn do vấn đề kinh tế trong gia đình, tính tình vợ chồng không hợp, chung sống với nhau đƣợc khoảng 4 tháng thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn trầm trọng, ông Ya Du L đã về nhà bố mẹ ruột tại xã Đ, huyện Đ sinh sống. Bà và ông Ya Du L không còn sống chung với nhau 02 năm nay. Nay bà xác định tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn đã trầm trọng, vợ chồng không thể tiếp tục chung sống với nhau đƣợc nữa nên bà yêu cầu Tòa Án giải quyết cho bà đƣợc ly hôn với ông Ya Du L.

Bà Ma Ch trình bày: Bà và ông Ya Du L có 01 con chung tên Ya M, sinh ngày 14/12/2015. Hiện nay con chung đang ở với bà. Khi ly hôn bà yêu cầu đƣợc trực tiếp nuôi con chung cho đến ngày con chung thành niên, bà yêu cầu ông Ya Du L có nghĩa vụ cấp dƣỡng nuôi con chung với số tiền 1.000.000đồng/tháng cho đến ngày con chung thành niên.

Bà Ma Ch trình bày: Bà và ông Ya Du L không có tài sản chung, không có nợ chung nên bà không yêu cầu Tòa Án xem xét giải quyết.

*/ đơn ông Ya Du L trình bày: Ông cùng bà Ma Ch kết hôn vào năm 2015, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, Huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng. Giữa ông bà không có thời gian tìm hiểu nhau mà do hai bên gia đình mai mối sau đó tổ chức lễ cƣới hỏi theo phong tục tập quán. Quá trình vợ chồng chung sống đƣợc 05 tháng thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do mẹ vợ ông thƣờng xuyên xúc phạm ông, bà Ma Ch nghe lời mẹ nên vợ chồng thƣờng xuyên cãi vã nhau, bà Ma Ch đã đuổi ông ra khỏi nhà đƣợc 02 năm nay và vợ chồng ông không còn chung sống với nhau từ đó đến nay. Nay ông xét thấy ông vẫn còn tình cảm với bà Ma Ch nên ông không muốn ly hôn nhƣng nếu bà Ma Ch kiên quyết xin ly hôn thì ông cũng đồng ý ly hôn.

Ông Ya Du L trình bày: Vợ chồng có 01 con chung tên Ya M, sinh ngày 14/12/2015. Hiện nay con chung đang ở với bà Ma Ch. Khi ly hôn ông đồng ý giao con chung cho bà Ma Ch trực tiếp nuôi dƣỡng, ông không đồng ý cấp dƣỡng nuôi con theo yêu cầu của bà Ma Ch vì bà Ma Ch là ngƣời làm đơn ly hôn chứ không phải là ông do vậy bà Ma Ch phải tự nuôi con một mình, trƣờng hợp bà Ma Ch không có khả năng nuôi con thì ông yêu cầu đƣợc nuôi con chung và không yêu cầu bà Ma Ch cấp dƣỡng nuôi con. Hiện nay ông làm nông trồng cà phê, thỉnh thoảng đi làm công cho ngƣời ta, tổng thu nhập đủ sống đảm bảo cho cuộc sống của ông và con ông nếu Tòa Án giao cho ông đƣợc nuôi con.

Ông Ya Du L trình bày: Ông và bà Ma Ch không có tài sản chung, không có nợ chung nên không yêu cầu Tòa Án xem xét giải quyết.

Tại phiên tòa hôm nay:

Bà Ma Ch vẫn giữ nguyên yêu cầu xin đƣợc ly hôn ông Ya Du L. Về con chung bà yêu cầu đƣợc trực tiếp nuôi con chung tên Ya M, sinh ngày 14/12/2015 cho đến ngày con chung thành niên. Bà yêu cầu ông Ya Du L cấp dƣỡng nuôi con 1.000.000 đồng/ tháng, thời gian tính từ tháng 1/2018 cho đến ngày con chung thành niên. Về tài sản chung và nợ chung bà Ma Ch không yêu cầu Tòa Án xem xét giải quyết.

Ông Ya Du L đồng ý ly hôn. Ông đồng ý giao con chung cho bà Ma Ch trực tiếp nuôi cho đến ngày con chung thành niên, ông không đồng ý cấp dƣỡng nuôi con. Về tài sản chung và nợ chung ông không yêu cầu Tòa Án xem xét giải quyết.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Huyện Đ phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thƣ ký phiên tòa và của ngƣời tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý cho đến trƣớc thời điểm Hội đồng xét xử nghị án không có gì sai phạm.Ý kiến quan điểm về việc giải quyết vụ án: Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, đề nghị xử cho bà Ma Ch đƣợc ly hôn ông Ya Du L. Về con chung giao cho bà Ma Ch trực tiếp nuôi con chung tên Ya M, sinh ngày 14/12/2015. Buộc ông Ya Du L có nghĩa vụ cấp dƣỡng nuôi con chung 1.000.000 đồng/ tháng, thời gian cấp dƣỡng tính từ tháng 1/ 2018 cho đến ngày con chung thành niên. Về tài sản chung và nợ chung bà Ma Ch và ông Ya Du L không yêu cầu xem xét giải quyết nên không đề cập đến.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đƣợc thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định: Đây là vụ án “Xin ly hôn” giữa nguyên đơn bà Ma Ch và bị đơn ông Ya Du L.

Về tố tụng dân sự: Bà Ma Ch có đơn đề nghị Tòa Án Huyện Đ giải quyết việc hôn nhân của ông bà. Theo quy định khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng Dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa Án nhân dân Huyện Đ.

Về quan hệ hôn nhân: Xét thấy hôn nhân giữa bà Ma Ch và ông Ya Du L là hoàn toàn tự nguyện, có đăng ký kết hôn. Quá trình chung sống sau khi kết hôn theo phong tục tập quán của ngƣời đồng bào dân tộc thiểu số thì ông Ya Du L về bên nhà bà Ma Ch chung sống cùng với gia đình vợ, cuộc sống vợ chồng chỉ hạnh phúc đƣợc thời gian ngắn thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do vợ chồng không có sự thông cảm chia sẻ với nhau trong cuộc sống xây dựng hạnh phúc gia đình, không đồng nhất về quan điểm sống, bất đồng trong việc xây dựng kinh tế gia đình, vợ chồng không tin tƣởng, tôn trọng nhau, cách cƣ xử giữa ông Ya Du L với gia đình bên vợ không đúng mực. Khi vợ chồng phát sinh mâu thuẫn không tìm ra hƣớng giải quyết. Tháng 7/2015 mâu thuẫn vợ chồng trầm trọng, ông Ya Du L đã dọn về nhà bố mẹ ruột tại xã Đ, Huyện Đ sinh sống từ đó cho đến nay. Trong quá trình Tòa Án thụ lý giải quyết vụ án, Tòa Án đã tiến hành hòa giải nhiều lần nhƣng không thành. Xét thấy hôn nhân giữa ông bà tình trạng mâu thuẫn đã trầm trọng, tình cảm vợ chồng không còn, ông bà đã ly thân từ tháng 7 năm 2015 cho đến nay, đời sống chung đã chấm dứt, mục đích hôn nhân không đạt đƣợc nên cần chấp nhận yêu cầu của bà Ma Ch đƣợc ly hôn ông Ya Du L là phù hợp, có căn cứ và đúng pháp luật.

Về con chung: Cháu Ya M, sinh ngày 14/12/2015 là con chung của vợ chồng nên ông bà phải có trách nhiệm nuôi dƣỡng và chăm sóc.

Tại phiên tòa bà Ma Ch yêu cầu nếu ly hôn bà yêu cầu đƣợc trực tiếp nuôi con chung cho đến ngày thành niên, yêu cầu ông Ya Du L có nghĩa vụ cấp dƣỡng nuôi con chung 1.000.000 đồng/1 tháng, thời gian cấp dƣỡng kể từ tháng 01 năm 2018 cho đến ngày con chung thành niên. Ông Ya Du L cho rằng nếu ly hôn ông đồng ý giao con chung cho bà Ma Ch trực tiếp nuôi dƣỡng cho đến ngày con chung thành niên nhƣng ông không đồng ý cấp dƣỡng nuôi con chung vì bà Ma Ch là ngƣời làm đơn xin ly hôn thì phải có nghĩa vụ nuôi con một mình, trƣờng hợp nếu bà Ma Ch không nuôi đƣợc con thì giao con cho ông nuôi, ông sẽ đảm bảo cuộc sống của con chung.

Hội đồng xét xử xét thấy trong thời gian vợ chồng ly thân bà Ma Ch là ngƣời trực tiếp chăm sóc, nuôi dƣỡng cháu Mến ổn định, phát triển bình thƣờng. Xét điều kiện của bà Ma Ch đảm bảo việc nuôi dƣỡng và chăm sóc con chung. Cháu M còn nhỏ chƣa đủ 36 tháng tuổi nên cần phải có mẹ chăm sóc nuôi dƣỡng. Để đảm bảo quyền lợi của con chung cần tiếp tục giao cháu M cho bà Ma Ch trực tiếp nuôi dƣỡng cho đến ngày thành niên là phù hợp, có căn cứ và đúng pháp luật. Bà Ma Ch yêu cầu ông Ya Du L có nghĩa vụ cấp dƣỡng nuôi con 1.000.000 đồng/ 1 tháng. Ông Ya Du L không đồng ý cấp dƣỡng. Qua điều tra xác minh thì thấy ông Ya Du L có khả năng cấp dƣỡng nuôi con, hơn nữa ông Ya Du L không trực tiếp nuôi con thì phải có nghĩa vụ cấp dƣỡng cho con. Do vậy cần buộc ông Ya Du L có nghĩa vụ cấp dƣỡng nuôi con 1.000.000 đồng/ 1 tháng, thời gian cấp dƣỡng kể từ tháng 1 năm 2018 cho đến ngày con chung thành niên là phù hợp, có căn cứ và đúng pháp luật.

Về tài sản chung, nợ chung: Bà Ma Ch và ông Ya Du L không yêu cầu Tòa Án xem xét giải quyết nên Hội đồng xét xử không đề cập đến.

Về án phí: Bà Ma Ch là nguyên đơn nên phải nộp toàn bộ án phí ly hôn sơ thẩm là 300.000đồng theo quy định của pháp luật. Ông Ya Du L phải nộp án phí cấp dƣỡng nuôi con theo định kỳ.

Về quyền kháng cáo: Bà Ma Ch và ông Ya Du L đƣợc quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH

- Căn cứ vào các Điều 56, 58 của Luật Hôn nhân gia đình năm 2014.

- Căn cứ khoản 2 Điều 357 của Bộ luật Dân sự.

- Căn cứ vào các Điều 28, 35, 39, 147,195, 205, 211, 220, 264, 267 của Bộ luật tố tụng Dân sự năm 2015.

- Căn cứ Điều 26 của Luật thi hành án dân sự.

- Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về án phí, lệ phí Tòa Án.

Xử:

1/ Chấp nhận yêu cầu của bà Ma Ch đƣợc ly hôn ông Ya Du L.

2/ Về con chung: Giao cho bà Ma Ch trực tiếp nuôi con chung tên Ya M, sinh ngày 14/12/2015 cho đến ngày con chung thành niên. Buộc ông Ya Du L có nghĩa vụ cấp dƣỡng nuôi con chung 1.000.000 đồng/ 1 tháng, thời gian cấp dƣỡng kể từ tháng 01 năm 2018 cho đến ngày con chung thành niên.

Quyền thăm nom con chung, thay đổi việc nuôi con chung theo quy định của Luật Hôn nhân gia đình.

Kể từ ngày ngƣời đƣợc thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, bên phải thi hành án còn phải trả số tiền lãi, tƣơng ứng với thời gian và số tiền chậm trả, theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 357 của Bộ luật Dân sự.

3/Về án phí: Bà Ma Ch phải nộp toàn bộ án phí Hôn nhân sơ thẩm là 300.000đồng (đƣợc trừ vào số tiền 300.000đồng bà Ch đã nộp tạm ứng án phí theo biên lai thu tạm ứng án phí số AA/2015/0006925 ngày 11/10/2017 của Chi cục thi hành án dân sự Huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng).

Ông Ya Du L phải nộp 300.000 đồng án phí cấp dƣỡng nuôi con theo định kỳ.

4/ Về quyền kháng cáo: Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án bà Ma Ch và ông Ya Du L có quyền kháng cáo bản án để xin Tòa Án tỉnh Lâm Đồng xét xử phúc thẩm.

Trường hợp quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, người yêu cầu thi hành án tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự./.

Cỡ chữ