vanban.org

Bản án 848/2023/HNGĐ-ST — Tranh chấp về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu của ông Đ T Q về việc: Thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn.

Giao cho ông Đ T Q trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con chung là Đặng Đăng K sinh ngày 10/9/2010, ông Q không yêu cầu bà N T N N cấp dưỡng nuôi con. Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Trường hợp lạm dụng việc thực hiện quyền này để cản tr… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn — án hôn nhân và gia đình — "Thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu của ông Đ T Q về việc: Thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn.
  • Căn cứ chính? Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
QUẬN BÌNH THẠNH
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 848/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 19/5/2023
V/v: Tranh chấp về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BÌNH THẠNH, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Yến

Các Hội thẩm nhân dân:

1.Bà Nguyễn Thị Nhơn

2.Bà Lâm Thị Hoàng Oanh

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Vũ Mỹ Linh là Thư ký Tòa án nhân dân quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Thạnh tham gia phiên tòa:

Bà Vũ Thị Giang - Kiểm sát viên sơ cấp

Ngày 19 tháng 5 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Bình Thạnh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 2399/2022/TLST-HNGĐ ngày 29 tháng 11 năm 2022 về: Tranh chấp về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 100/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 24 tháng 3 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 98/2023/QĐST-HNGĐ ngày 21 tháng 4 năm 2023, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Ông Đ T Q; địa chỉ: Số 1N Đường L, Phường M, quận BTh, Thành phố Hồ Chí Minh

Bị đơn: Bà N T N N; địa chỉ: Số 79/32 Đường C, Phường D, quận BTH, Thành phố Hồ Chí Minh

(Nguyên đơn có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện xin thay đổi quyền nuôi con, quá trình tố tụng tại Tòa án nguyên đơn là ông Đ T Q trình bày: Năm 2012 ông được Tòa án nhân dân quận Bình Thạnh,Thành phố Hồ Chí Minh giải quyết cho ông và bà N T N N được ly hôn; giao cho bà N T N N trực tiếp nuôi con Đ Đ K sinh ngày 10/9/2010, ông Q cấp dưỡng nuôi con là 3.000.000 đồng/tháng và giao cho ông trực tiếp nuôi con Đặng Ngọc Kim Ngân, sinh ngày 09/8/1999. Tuy nhiên, kể từ sau ly hôn cho đến nay, bà N không nuôi dưỡng con, việc nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con Đặng Đăng K hoàn toàn do ông Q thực hiện. Nay để ổn định cuộc sống và để bảo đảm tốt nhất cho việc trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục Đặng Đăng K ông đề nghị Tòa án thay đổi người trực tiếp nuôi con chung Đ Đ K từ bà N T N N sang cho ông Q là người trực tiếp nuôi con. Việc cấp dưỡng nuôi con chung, ông Q không yêu cầu bà N phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Đối với bị đơn là bà N T N N trình bày: Bà N đã được Tòa án tống đạt hợp lệ thông báo thụ lý vụ án; thông báo phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải; thông báo về việc thu thập tài liệu, chứng cứ; quyết định đưa vụ án ra xét xử; quyết định hoãn phiên tòa, giấy triệu tập tham gia phiên tòa nhưng bà N không đến Tòa án giải quyết vụ án và cũng không gửi cho Tòa án văn bản ghi ý kiến của mình về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Thạnh tham gia phiên tòa phát biểu:

Về thủ tục tố tụng: Thẩm phán và Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng các quy định của pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án; nguyên đơn đã thực hiện đúng các quy định tại các điều 70, 71 Bộ luật Tố tụng dân sự; bị đơn chưa thực hiện đúng các quy định tại các điều 70, 72 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung: Căn cứ Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, đề nghị chấp nhận toàn bộ yêu cầu xin ly hôn của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết của Tòa án:

Theo kết quả cung cấp tài liệu, chứng cứ của Công an Phường 19, quận Bình Thạnh thì: “Bà N T N N; SN: 1975 có HKTT tại 79/32 Phạm Viết Chánh, Phường 19, quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh nhưng không thực tế cư trú tại địa phương từ năm 2014 đến nay; đi đâu không rõ; không có thông tin liên lạc”.

Căn cứ khoản 3 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, đây là tranh chấp thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh.

Về thủ tục tố tụng: Tòa án đã tiến hành đăng tải thông báo giải quyết vụ án trên phương tiện thông tin đại chúng đối với bà N T N N theo quy định tại Điều 180 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Đồng thời, Tòa án đã tống đạt hợp lệ thông báo thụ lý vụ án; thông báo phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải; thông báo về việc thu thập tài liệu, chứng cứ; quyết định đưa vụ án ra xét xử; quyết định hoãn phiên tòa, giấy triệu tập tham gia phiên tòa nhưng bà N không đến Tòa án giải quyết vụ án và cũng không gửi cho Tòa án văn bản ghi ý kiến của mình về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Bị đơn không nộp tài liệu, chứng cứ và văn bản ý kiến của mình đối với yêu cầu của nguyên đơn. Tòa án căn cứ tài liệu chứng cứ đương sự đã giao nộp và Tòa án đã thu thập theo khoản 1 Điều 96 của Bộ luật Tố tụng dân sự để xét xử vụ án.

Ông Đ T Q có đơn đề nghị xét xử vụ án vắng mặt.

Căn cứ Điều 227, Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án nhân dân quận Bình Thạnh xét xử vụ án vắng mặt các đương sự.

Về yêu cầu của đương sự:

Xét yêu cầu của ông Đ T Q về việc xin thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn, Hội đồng xét xử thấy. Tại bản án số 62/2012/HNGĐ-ST ngày 30/11/2012 của Tòa án nhân dân quận Bình Thạnh,Thành phố Hồ Chí Minh giao trẻ Đặng Đăng K sinh ngày 10/9/2010 cho bà N T N N trực tiếp nuôi dưỡng. Căn cứ khoản 1 Điều 84 Luật Hôn nhân và Gia đình, ông Q có quyền đề nghị thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn.

Đối với bà N T N N: Sau khi Tòa án tuyên giao Đ Đ K sinh ngày 10/9/2010 cho bà N trực tiếp nuôi dưỡng nhưng hiện nay cháu K lại do ông Q trực tiếp nuôi dưỡng chứ không phải bà N trực tiếp nuôi dưỡng. Điều này được khẳng định tại kết quả cung cấp tài liệu, chứng cứ ngày 04/01/2023 của Công an Phường 15, quận Bình Thạnh: “ Trẻ Đặng Đăng K sinh ngày 10/9/2010 hiện đang ở cùng bố là Đ T Q, SN 1976 tại đại chỉ 1N Đinh Bộ Lĩnh, Phường 15, quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh” và Căn cứ Khoản 3 Điều 84 Luật hôn nhân gia đình quy định: “Việc thay đổi người trực tiếp nuôi con phải xem xét đến nguyện vọng của con từ đủ 07 tuổi trở lên”, con Đặng Đăng K hiện nay đã trên 07 tuổi và có nguyện vọng được ở cùng ông Q theo Biên bản lấy lời khai ngày 23/2/2023 của Tòa án nhân dân quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh.

Từ những tình tiết và nhận định nêu trên Hội đồng xét xử xét thấy có đủ cơ sở chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Q về việc thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn. Việc cấp dưỡng nuôi con, ông Q không yêu cầu bà N cấp dưỡng nuôi con. Xét, đây là sự tự nguyện của ông Q, không trái với quy định của pháp luật nên Hội đồng xét xử ghi nhận.

Về án phí: Án phí sơ thẩm đối với yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn là 300.000 đồng, ông Q phải nộp.

Đối với phần phát biểu của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Thạnh tham gia phiên tòa về việc giải quyết vụ án, Hội đồng xét xử thấy: Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Thạnh đã nhận định đúng về thủ tục tố tụng và phân tích đúng nội dung của vụ án và đưa ra ý kiến giải quyết vụ án đúng theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 2 Điều 21, khoản 3 Điều 28, khoản 1 Điều 35, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 266, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ vào các Điều 69, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình;

Căn cứ Điều 24, Điều 26 Luật Thi hành án;

Căn cứ Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu của ông Đ T Q về việc: Thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn.

1.Giao cho ông Đ T Q trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con chung là Đặng Đăng K sinh ngày 10/9/2010, ông Q không yêu cầu bà N T N N cấp dưỡng nuôi con.

Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Trường hợp lạm dụng việc thực hiện quyền này để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con hoặc cá nhân, tổ chức được quy định tại Điều 86 Luật Hôn nhân và gia đình có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con chưa thành niên của người không trực tiếp nuôi con. Vì quyền lợi của con, khi có lý do chính đáng, một hoặc cả hai bên có quyền yêu cầu Tòa án thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc mức cấp dưỡng nuôi con.

2. Về án phí: Án phí sơ thẩm đối với yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn là 300.000 đồng ông Đ T Q phải nộp nhưng được trừ vào tiền tạm ứng án phí mà ông Q đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí số AA/2022/0018949 ngày 22/11/2022 của Chi cục thi hành án quận Bình Thạnh. Ông Q đã nộp đủ án phí sơ thẩm.

3.Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

4.Về quyền kháng cáo: Ông Đ T Q, bà N T N N được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt hợp lệ bản án hoặc bản án được niêm yết.

Nơi nhận:

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

- Các đương sự;

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA -TAND Tp. Hồ Chí Minh;

- VKSND Tp. Hồ Chí Minh;

- VKSND quận Bình Thạnh;

- Chi cục THADS Q.Bình Thạnh;

- Lưu hồ sơ vụ án.

Trần Thị Yến

Cỡ chữ