vanban.org

Bản án 84/2026/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của chị Bùi Thị D.

Về hôn nhân: Xử cho chị Bùi Thị D được ly hôn anh Bùi Ngọc D. Về con chung: Giao cháu Bùi Thị Ngọc A, sinh ngày 17/7/2023 cho chị D trực tiếp nuôi dưỡng, anh D cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị D mỗi tháng số tiền là 2.000.000đ (Hai triệu đồng). Thời gian cấp dưỡng từ tháng 7 năm 2026 cho đến khi ch… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Chị D xin ly hôn anh D"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của chị Bùi Thị D.
  • Căn cứ chính? Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình xử; Điều 107 Luật Hôn nhân và gia đình
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 7- THANH HÓA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 84/2026/HNGĐ-ST
Ngày: 31/7/2026
V/v:“Ly hôn, tranh chấp nuôi con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7-THANH HÓA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Cúc

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Nguyễn Thị Tường Vân

2. Ông Phạm Hồng Kiên

- Thư ký phiên toà: Ông Trần Văn Hùng - Thư ký Toà án nhân dân khu vực 7 – Thanh Hóa.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7 - Thanh Hóa tham gia phiên tòa: Bà Dương Thị Hiên- Kiểm sát viên.

Ngày 31 tháng 7 năm 2026, tại trụ sở Toà án nhân dân khu vực 7 - Thanh Hóa xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 167/2026/TLST-HNGĐ ngày 21 tháng 5 năm 2026 về việc: “Ly hôn, tranh chấp nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 1030/2026/QĐXXST-HNGĐ ngày 02 tháng 7 năm 2026 và Quyết định Hoãn phiên tòa số: 1024/2026/QĐST-HNGĐ ngày 17 tháng 7 năm 2026, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Bùi Thị D; Sinh năm: 1983

HKTT và địa chỉ hiện nay: Thôn 4 T, xã K, tỉnh Thanh Hóa.

Số CCCD: xxxxxxxxxxxx

Vắng mặt (Có đơn xin xét xử vắng mặt)

2.Bị đơn: Anh Bùi Ngọc D; Sinh năm: 1982

HKTT và địa chỉ hiện nay: Thôn 4 T, xã K, tỉnh Thanh Hóa.

Số CCCD: xxxxxxxxxxxx

Vắng mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện đề ngày 20/5/2026 cũng trong quá trình giải quyết vụ án, chị Bùi Thị D trình bày:

Về hôn nhân: Chị và anh Bùi Ngọc D kết hôn tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, (nay là xã K), tỉnh Thanh Hóa ngày 23/10/2023. Sau khi cưới vợ chồng sống hòa thuận được 3 tháng thì mâu thuẫn trầm trọng. Nguyên nhân là do vợ chồng tính tình không hòa hợp, không cùng chung quan điểm sống nên thường xuyên sảy ra cãi cọ và đã nhiều lần anh D có hành vi bạo lực với chị. Thời gian kéo dài khiến chị cảm thấy vô cùng mệt mỏi và chán nản. Đến nay, chị xác định tình cảm vợ chồng không còn nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh D.

Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung là Bùi Thị Ngọc A, sinh ngày 17/7/2023. Ly hôn, chị yêu cầu được trực tiếp nuôi con và yêu cầu anh D cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị mỗi tháng 2.000.000đ cho đến khi cháu đủ 18 tuổi.

Về tài sản và nợ chung: Chị D không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tòa án đã Tống đạt hợp lệ Thông báo về việc thụ lý vụ án và các văn bản tố tụng cho anh D nhưng anh D vắng mặt nên không có ý kiến của anh D trong hồ sơ vụ án.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát:

Về tố tụng: Tòa án đã xác định đúng quan hệ pháp luật và tư cách tố tụng của các đương sự trong vụ án. Từ giai đoạn thụ lý vụ án cho đến khi mở phiên tòa xét xử sơ thẩm, Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án cũng như các thành viên của Hội đồng xét xử (Sau đây viết tắt là HĐXX) và Thư ký phiên tòa đã tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự (Sau đây viết tắt là BLTTDS). Nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình, bị đơn chưa thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của BLTTDS.

Về nội dung: Đại diện Viện kiểm sát đề nghị áp dụng các Điều 56, 58, 81, 82, 83, 107, 110, 116, 117 Luật hôn nhân gia đình. Về hôn nhân: Xử cho chị Bùi Thị D được ly hôn anh Bùi Ngọc D; Về con chung: Giao cháu Bùi Thị Ngọc A, sinh ngày 17/7/2023 cho chị D trực tiếp nuôi dưỡng, anh D cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị D mỗi tháng là 2.000.000đ (Hai triệu đồng) cho đến khi cháu A đủ 18 tuổi.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, HĐXX nhận định:

. Chị Bùi Thị D khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết về việc ly hôn với anh Bùi Ngọc D. Anh D cư trú tại xã K, tỉnh Thanh Hóa nên đây là vụ án ly hôn thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân kh vực 7 - Thanh Hóa, theo quy định tại khoản 1 Điều 28; Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của BLTTDS.

[2]. Trong vụ án có con chưa thành niên nên Tòa án đã tiến hành xác minh để xác định nguyên nhân của việc phát sinh tranh chấp theo khoản 3 Điều 208 BLTTDS và đã thông báo kết quả thu thập tài liệu chứng cứ cho các bên đương sự cũng nhưng VKS được biết.

. Quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp tiếp cận công khai chứng cứ cho các bên đương sự, nhưng anh D vắng mặt nên Tòa án đã mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ vắng mặt anh D và đã thông báo kết quả phiên họp cho anh D theo khoản 3 Điều 210 BLTTDS.

. Chị D có đơn đề nghị không tiến hành hòa giải nên Tòa án không tiến hành hòa giải được theo quy định tại khoản 4 Điều 207 BLTTDS.

. Tại phiên tòa, chị D vắng mặt nhưng đã có đơn xin xét xử vắng mặt, anh D vắng mặt lần thứ hai không có lý do. Căn cứ quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều 227; khoản 1, khoản 3 Điều 228; Điều 238 BLTTDS, Tòa án xét xử vắng mặt chị D và anh D.

. Về hôn nhân: Chị Bùi Thị D và anh Bùi Ngọc D kết hôn tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, (nay là xã K), tỉnh Thanh Hóa vào ngày 23/10/2023 và không vi phạm các điều cấm của Luật hôn nhân và gia đình, là hôn nhân hợp pháp. Sau ngày cưới, vợ chồng hòa thuận được một thời gian ngắn thì mâu thuẫn trầm trọng. Nguyên nhân là do vợ chồng không cùng chung quan điểm sống nên thường xuyên sảy ra cãi cọ, cuộc sống không hạnh phúc. Vào đầu năm 2026, chị D đã làm đơn ly hôn với anh D gửi đến Tòa án nhưng được Tòa án hòa giải nên đã rút đơn để vợ chồng đoàn tụ. Nhưng chỉ một thời gian ngắn, vợ chồng lại phát sinh mâu thuẫn nên chị D tiếp tục làm đơn yêu cầu Tòa án giải quyết cho ly hôn với anh D. Mâu thuẫn vợ chồng đã được chính quyền địa phương nơi cư trú xác nhận, đồng thời cũng phù hợp với nội dung mà Tòa án đã tiến hành xác minh tại địa phương. HĐXX nhận thấy mâu thuẫn vợ chồng đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, cần căn cứ Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình xử cho chị Bùi Thị D được ly hôn anh Bùi Ngọc D.

. Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung như chị D trình bày. Xét thấy, cháu Bùi Thị Ngọc A là con gái, lại đang còn nhỏ (mới hơn 36 tháng tuổi). Do đó, nên chấp nhận yêu cầu của chị D, giao cháu giao cháu A cho chị D trực tiếp nuôi dưỡng sau khi ly hôn là phù hợp với thực tế và giới tính.

. Về việc cấp dưỡng nuôi con chung: Chị D yêu cầu anh D cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị mỗi tháng số tiền là 2.000.000đ (Hai triệu đồng). Yêu cầu của chị D là hoàn toàn chính đáng, số tiền mà chị D yêu cầu anh D cấp dưỡng cũng phù hợp với quy định tại Điều 7 Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP, ngày 16/5/2024 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao. Do đó, HĐXX chấp nhận đối với yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung của chị D.

. Về tài sản: Chị D không yêu cầu Tòa án giải quyết nên miễn xét.

. Về án phí: Chị D, anh D phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 56, 58, 81, 82, 83, 107, 110, 116, 117 Luật hôn nhân gia đình; Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; Điểm a khoản 1 Điều 24, điểm a khoản 5, điểm a khoản 6 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu án phí và lệ phí Toà án.

Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của chị Bùi Thị D.

1. Về hôn nhân: Xử cho chị Bùi Thị D được ly hôn anh Bùi Ngọc D.

2. Về con chung: Giao cháu Bùi Thị Ngọc A, sinh ngày 17/7/2023 cho chị D trực tiếp nuôi dưỡng, anh D cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị D mỗi tháng số tiền là 2.000.000đ (Hai triệu đồng). Thời gian cấp dưỡng từ tháng 7 năm 2026 cho đến khi cháu đủ 18 tuổi hoặc đến khi các bên đương sự có yêu cầu Tòa án thay đổi mức cấp dưỡng khác. Khoản tiền cấp dưỡng được thi hành ngay mặc dù bản án có thể bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm.

Anh D có quyền thăm nom con chung, không ai được cản trở.

3. Về án phí: Chị Bùi Thị D phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm về việc ly hôn nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) tại Phòng thi hành án dân sự khu vực 7 - Thanh Hóa theo biên lai số BLTU/26E/0003993 ngày 21/5/2026. Chị Dịnh đã nộp đủ tiền án phí. Anh D phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí DSST về việc cấp dưỡng nuôi con chung.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 luật thi hành án dân sự.

Án xử công khai sơ thẩm, vắng mặt chị Bùi Thị D và anh Bùi Ngọc D. Chị D và anh D có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết.

Cỡ chữ